Vị chát búp chè

Vùng chè Tuyên Quang là vùng chè lớn nhất cả nước. Ở nhiều nơi mỗi năm chỉ sản xuất ra một vài tấn chè đã là điều mơ ước. Trong khi đó ở Tuyên Quang mỗi năm đã xuất ra thị trường trong nước và ngoài nước như Hồng K – ông, Anh tới hàng ngàn tấn, được khách hàng ưa chuộng. Những nương chè nơi đây đã một thời đi vào tâm trí đi vào thi ca biết bao người. Những địa danh nổi tiếng: Lũng Pin, Bó Tuốt, Khan Méet ; Sinh Long , Bạt Tiên với những chè Tuyết, chè Shan, Đại Bạch Trà.
Để rừng chè tồn tại, người trồng chè cũng lắm truant chuyên. Thu nhập của hàng chục ngàn người lao động ở vùng chè Tuyên Quang còn rất khiêm nhường. Theo số liệu chưa đầy đủ của Xỉ nghiệp Nông Công nghiệp chè Tuyên Quang thì mức thu của người lao động chỉ đạt bình quân 170 ngàn đồng một tháng. Trong khi đó sản lượng chè hàng năm trên 5.000 tấn búp, năng suất bình quân là 42.5 tạ/ ha. Trên 4 ngàn ha tổng diện tích cây chè của xí nghiệp vẫn luôn cần tới những bàn tay chăm sóc hái lượm của người trồng chè. Vậy thì, con số 170 ngàn đồng kia so với công sức của người lao động bỏ ra tất là điều đáng phải lưu tâm.
Thị trường của chè và các nhà máy chế biến, là người tiêu dùng trong và ngoài nước. Giá một kg búp tươi sau nhiều biến động của các mặt hàng khác thì vẫn chỉ luôn ở mức 1.500 đồng. Trong điều kiện như vậy việc cải thiện đời sống người lao động xem ra thực khó. Cùng với cái khó của người trồng chè, thì công nhân trong các nhà máy, phân xưởng chế biến chè cũng chẳng hơn gì. Chặng đường của mỗi cân chè thành phẩm vượt đại dương tới Anh Quốc, Hồng K- ông cũng chỉ thu về 1,2 USD. Thử chia 1,2 USD cho tất cả các khâu: thu mua búp, chế biến, cước phí vận chuyển, thuế xuất nhập khẩu và nhiều công đoạn khác nữa thì việc đời sống công nhân còn khó khăn là điều dể hiểu.
Để khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng chè, đòi hỏi phải cải cách các thủ tục để có nhiều đối tác, mở rộng liên kết, liên doanh, tiếp thị nhanh đối với các doanh nghiệp. Cần đổi mới cơ chế, khuyến khích phát triển mô hình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là mô hình tư doanh, trách nhiệm hữu hạn thì mới có thể tiếp nhận tiếp thị nhanh và sản xuất mới mang lại hiệu quả.
Bên cạnh đó cần mở rộng thị trường truyền thống như Nga, Tây Á, I – Rắc, A – Rập… đồng thời cần quan tâm đúng mức tới nhu cầu tiêu thụ nội địa. Muốn có được chữ tín trên thị trường chè đòi hỏi phải có búp chè tốt, tăng năng suất lao động công nghiệp, đổi mới mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Chỉ có như vậy chè Tuyên Quang mới khẳng định được chỗ đứng của mình. Và có như vậy mới nâng cao được đời sống người loa động, họ mới yên tâm vào công việc trồng chè.
Nhận thức được vấn đề này, mấy năm trở lịa đây Xí nghiệp Nông Công nghiệp chè Tuyên Quang đã tiến hành thực hiện chương trình 01 về tiến bộ kỹ thuật chế biến thành phần chè. Chương trình này gồm 2 đề tài cải tiến các khâu vỏ và lên men để nâng cao chất lượng, tỷ lệ 3 mặt hàng chè đen xuất khẩu của nhà máy. Xí nghiệp đã lắp đặt thê, 3 cối vò nên tăng được thời gian vò, lắp thêm 2 máy đẩy không khí từ phòng lên men sang phòng vò; cải tiến lưới sàng tơi; lắp thêm hai máy phun ẩm, quạt đẩy vò theo quy trình 321. Kết quả đạt được độ dập tế bào gần 30%; cánh chè xoăn, chặt gọn, đẹp, đen bóng. Tuy nhiên xí nghiệp vẫn đang còn đối mặt với những tồn tại kỹ thuật nhất là khâu sấy, thiết bị kỹ thuật và quy trình sản xuất chè cũng như nâng cao trình độ tay nghề của công nhân.
Qua thực tế vấn đề nổi cộm ở Tuyên Quang là: Việc tiêu thụ sản phẩm chè trong nhiều năm nay đặc biệt là chè xanh, chè vàng rất bấp bên, giá lại thấp, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa nơi mà điều kiện giao thông vô cùng khó khăn. Diện tích trồng chè nhiều nhưng các doanh nghiệp làm chè xuất khẩu nhiều khi phải khoanh tay bất lực nhìn nguyên vật liệu và sản phẩm của nông dân làm ra trôi nổi tự do trên thị trường vắng bóng người thu gom, quản lý. Điều này đã có tác động tiêu cực là một trong những yếu tố gây thất thu ngân sách địa phương.
Cây chè là nguồn sống chủ yếu của đồng bào ở một số vùng địa phương Tuyên Quang. Việc thả nổi cây chè và sản phẩm của nó khiến người dân phải xoay sở tự chế biến bằng phương pháp thủ công.
Vùng chè Tuyên Quang không chỉ là vùng chè đặc sản nổi tiếng mà nơi đây là địa danh du lịch nổi tiếng với Suối Giàng cùng hàng trăm cây chè cổ thụ gốc to 3,4 người ôm. Bên những gốc chè Suối Giàng đã có nhiều bức hình kỷ niệm của các nhà lãnh đạo Nhà nước và không ít du khách gần xa. Mong sao cây chè rồi đây sẽ trở về với đúng vị trí của nó trong đời sống xã hội, trong đà đi lên của tỉnh miền núi chiến khu này.
Nguyễn Ngọc Dũng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Lễ hội xuân này ở Thái Nguyên

Tôi là người thích vãn cảnh đền, chùa nên thấu hiểu được nỗi khổ ở các lễ hội những mùa xuân trước. Người chen chúc, xô đẩy nhau vào các bàn thờ để thắp hương, mất hết cả sự thành kính. Mỗi người cầm hàng nắm hương cháy đỏ như thế nghĩ rằng, càng thấp nhiều hương thì càng lắm lộc (!), bất cần biết tàn hương đang cháy có thể rơi vào tóc, vào áo người kế bên. Chính vì thế khói hương nghi ngút cứ như người ta… hun chuột ngoài đông vậy. Chẳng ai còn mở mắt được để xem bạn thờ ở hướng nào, nên đành rút lui ra ngoài để thở, hoặc là nhắm mắt vái bừa… Chuyện hái lộc cũng là một vấn đề. Trên đường đến hội đã gặp không ít người về, mang theo những cây, vâng không phải là cành lộc to tướng phía sau xe máy hoặc ô tô. Do vậy, khi tan hội đền chùa cứ như sau bão. Các mầm cây bị bẻ sạch, những lá nào khả dĩ được coi là lộc đều bị hái đi. Tôi cất công lên tận đỉnh núi Đuổm xem “thực địa” thì thấy không một cành cây nào còn ngọn, lá nữa. Vậy mà mấy cô cậu thanh niên vẫn tiếp tục rủ nhau sang ngọn núi bên cạnh trên những mỏm đá cheo leo đầy nguy hiểm… bẻ lộc!
Xuân này chuyện cũ xem chừng khác trước. Người đến hội Đuồm không đông bằng năm trước, phần trùng ngày với hội Gióng (Sóc Sơn), phần thiếu trò vui. Ban tổ chức đã tổ chức việc trồng cây cùng với cấm bẻ cành, hái lộc trên núi. Song, nhưng chưa phải đã chấm dứt hẳn. Ở Hội Chùa Hang việc hái lộc không còn do núi đá hiếm cây. Hơn nữa cũng do ban tổ chức có biện pháp ngăn chặn tích cực. Bù lại, các hàng bán cây cảnh, phong lan, chim ghép từ cây cu li… được bày bán rất nhiều bên cạnh các dãy bàn đồ lưu niệm.
Ở các hội đền, chùa năm nay, tỉnh văn hóa, trong phần lễ được chú ý hơn với các lễ dâng hương lành mạnh. Không có đồng cốt, hầu bóng. Các hoạt động mê tín dị đoan đã hạn chế đáng kể. Hầu hết các lễ hội không có bán thẻ, quẻ, bói toán. Người ta dự lễ được thưởng thức các điệu múa hat do các hội quy trình diễn trong khi tế lễ. Như mọi năm . Chùa Hang giữ được nét riêng: Ngay từ giờ khai hội, các đoàn đại biểu mang vòng hoa viếng các anh hung liệt sĩ trước khi vào chùa dự lễ dâng hương.
Do tô chức chu đáo nên trong hang không còn cảnh khói hương mù mịt như trước nữa.
Trong phần hội, các nơi đã có nhiều hoạt động phong phú. Chùa Hang và chùa Phù Liễn đều được tổ chức chọi gà, chơi cờ tướng, riêng Phù Liễn còn có hội bình thơ là nét riêng, mang tính văn hóa cao. Chùa Hang thêm trò bịt mắt bắt dê (thật), thi vật , hát quan họ… hấp dẫn du khách có lẽ vì vậy mà người về traye hội Chùa Hang đông hơn mọi năm.
Có thể kể nhiều về các lễ hội khi mùa xuân đến, nhưng đêìu ghi nhận qua các hội đền, chùa năm nay là nét văn hóa, sự hướng thương của khách du xuân. Tuy nhiên để các lễ hội ngày càng lành mạnh thiết thực hơ, thiết nghĩ công tác tuyên truyền về ý nghĩa mục đích của mỗi lễ hội cần được làm tốt hơn, sâu rộng hơn. Việc tổ chức các trò vui đa dạng thực sự giữ vị trí quan trọng trong các lễ hội. Bởi đối tượng tham gia lễ hội hè phần đông là thanh niên và họ đến lễ hội với nhu cầu chính đáng là vui chơi giải trí, gặp gỡ, giao lưu. Những lễ hội được tổ chức với các sinh hoạt văn hóa hấp dẫn chắc chắn sẽ bổ ích cho mọi tầng lớp và là lý do để thu hút khách tham quan.
Có một điều xin được nói thêm: Trước đây đi hội Gióng thấy người ăn xin nhiều vô kể, tất nhiên cũng có tìh trạng làm phiền người đi hội. Nhưng gần đây tình trạng đó không còn. Song, những lễ hội ở Thái Nguyên thì ngược lại người ăn xin từ nhiều nơi đỗ về có phần tăng lên. Làm việc thiện tùy tâm là truyền thống tốt đẹo của chúng ta, nhưng đáng tiếc, còn có hiện tượng người ăn xin quấy nhiễu du khách, thậm chí gần như buộc khách phải cho tiền. Ai nấy đều hiểu rằng lễ hội là nơi đón khách thập phương, trong đó không ít khách nước ngoài. Vì thế, làm sao để khi rời hội khách còn lưu những ấn tượng đậm về một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt, chứ không phải là những cảm giác không vui trước những điều chưa thật – cho dù điều đó không mnag tính đại diện. Để có những lễ hội thật vui, thật lành mạnh, đòi hỏi sự cố gắng mọi mặt của Ban tổ chức và chính quyền nơi đó rất nhiều. Hy vọng mùa xuân tới, chúng ta lại được dự những lễ hội mà ấn tượng tốt lành sẽ mãi theo mãi suốt cả năm.
Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Tôi là nhà vườn nhưng yêu du lịch

Trong thập niên 90, ngành du lịch nước ta đá có bước phát triển khá rõ nét hơn bao giờ. Đây được xem là tín hiệu xanh, tạo tiền đề thúc đẩy cho ngành du lịch khai thác, phát huy “tiềm năng lợi thế của mình”. Nhiều người, nhiều đoàn thể và mọi thành phần kinh tế khai thác đã “gia nhập” việc khai thác kinh tế du lịch với con số chưa từng có. Phải chăng ngành “công nghiệp không khói” dễ kiếm ăn hay còn là nguyên nhân nào khác?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đã gặp anh Bảy Sang, nhà nông nghiệp trẻ gốc nông dân nòi, tham gia công tác khai thác du lịch , làm ăn khá thành công và có nhiều triển vọng. Anh là chủ nhà vườn du lịch Mỹ Khánh – Cần Thơ.
Phóng viên: Chào anh Bảy, được biết Mỹ Khánh là một trong những điểm du lịch vườn trái cây Cần Thôn riêng, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung đang là điểm hẹn của khách du lịch trong và ngoài nước khi họ có dịp đến thăm quan vùng này. Vậy, anh có thể giới thiệu vài nét về quá trình hình thành và cách làm của Mỹ Khánh.
Anh Bảy Sang: Tôi chẳng biết bắt đầu từ đầu cho đúng nghĩa! Bởi lẽ tổng số khách đến tham quan hàng năm ở Mỹ Khánh hoàn toàn ngoài dự tính của tôi. Theo ước tính số khách năm 96 chỉ khoảng vài ngàn người nhưng đến nay hàng năm chúng tôi đã tiếp nhận từ 4 chục đến 5 chục ngàn khách, trong đó có hơn 14 ngàn khách quốc tế. điều không ngờ vừa, Vườn du lịch Mỹ Khánh chỉ khoảng hơn 3 mẫu đất 93 ha diện tích) so với các điểm du lịch vườn khác chỉ là em út.
Phóng viên: Còn về cách làm, anh tâm đắc điều gì?
Anh Bảy Sang: Tôi xuất thân từ nông dân nòi chính hiệu. Bởi vậy, nếu được phép nói theo suy nghĩ của bản thân thì điều tâm dắc nhất của tôi là lòng say mê du lịch, trong đó có cả tình yêu quê hương vốn nổi tiếng về vườn cây trái ngọt ngào… Tôi nghĩ, giữ gìn thôi chưa đủ, mà phải biết phát huy hết những tiềm năng của nó, phải biết quảng bá tới khách năm châu trên mọi hình thức… và tôi đã chọn ngành du lịch… Mặt khác, về lĩnh vực chuyên môn, tôi rất tỉa từ kinh nghiệm qua các chuyến tham quan tour du lịch Việt Nam và nước ngoài – tiếp thu thông tin du lịch qua báo – đài, thường xuyên theo dõi học hỏi những chương trình qua sách vở có liên quan đến du lịch và từ đó tôi đi vào thực tế. Tuy nhiên, bước khởi đầu không sao tránh khỏi những khó khăn ách tắc, nhưng tôi biết mình làm một việc hoàn toàn đúng đắn và ý nghĩa. Tôi hoàn toàn an tâm và tin tưởng bởi việc làm trên chính là tuân thủ theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và phát triển kinh tế du lịch…
Hiện nay, do vốn tự có hạn hẹp, nên ngoài khu vườn trái cây, cầu cảnh, ao hồ và các dịch vụ ăn ở vui chơi như: Nhà nghỉ – Nhà hàng – Ca nhạc tài tử – Karaoke – câu lạc bộ bida – Cầu long, hồ bơi, du thuyền, chúng tooi mới chỉ dám nghĩ đến việc tiếp tục mở rộng khu vườn thú động vật quý hiếm và sân teniss… Để đạt đựơc những kết quả như hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân, và an hem nhân viên, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, các ban, ngành hữu quan cùng với các đơn vị trong ngành du lịch. Với sự quan tâm đó, hy vọng Mỹ Khánh sẽ tiếp tục phát triển.
Italia: Mở cửa Tháp cổ Viminal
Trong 2 ngày 10 và 11/3/2001, lần đầu tiên trong lịch sử, Bộ nội vụ Italia sẽ mở cửa cho du khách trong và ngoài nước tham quan Tháp Viminal, một trong 7 tháp cổ cao ở thành phố Roma, nằm trong khuôn viên của Bộ nội vụ – một nơi được bảo mật tuyệt đối.
Tháp cổ Viminal được Manfredo Manfredi – một trong những kiến trúc sư nổi tiếng của thời Phục hưng, thiết kế theo kiểu Baroque. Từ năm 1910, tháp này bị đóng cửa đối với dân chúng, do trở thành tổ hợp nhà làm việc của Thủ tướng và nội khác, đến năm 1961, khi thủ tướng và nội khác chuyển tới lâu đài Chigi Palace nơi đây thành trụ sở Bộ Nội vụ.
Tháp Vimanal gồm 5 tầng với hàng trăm phòng, nhiều phòng khách, gallery nghệ thuật, sân chơi…
Liu Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Làm gì để bảo vệ Di sản văn hóa

Trong một thời gian dài, nhiều nước trên thế giới phải đối mặt với nạn cướp phá, buôn bán trái phép các di sản văn hóa động sản (DSVHĐS) – là những di tích lịch sử, khảo cổ, kiến trúc – nghệ thuật… của ông cha, tổ tiên để lại. Tình hình này vẫn diễn ra nghiêm trọng ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển. Việc chiếm đoạt trái phép không những hủy hoại DSVH của một dân tộc mà kéo theo đó sự mất mát không thể bù đắp về những thông tin lịch sử. Vậy cần làm gì để bảo vệ di sản văn hóa động sản?
Những con số biết nói.
Theo các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới thì ở những đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm là những khu dễ bị nạn cướp phá hoàn thành nhất, bởi tại đây tập trung một số lượng khá lớn các di sản văn hóa động sản. 1/3 lãnh thổ của thổ dân da đỏ Mỹ phải mất mát đáng kể nạn cướp bóc tại các khu vực chôn cất những người Mỹ bản xứ. Rất nhiều tượng đài của khu di tích Ăngko và Banteay Chanan hay các tượng đài, các tác phẩm điêu khắc minh họa thành tựu kinh tế xã hội và nghệ thuật cao của nền văn hóa Khơme đng bị đưa ra chợ lậu ngoại quốc. Nước Pháp hàng năm mất 6.000 cổ vật, Trung Quốc mỗi năm thu lại 8.000 đến 10.000 cổ vật bị thất thoát. Còn Thổ Nhĩ Kì có hơn 130 cổ vật bị đánh cắp có niên đại từ thế kỷ thứ 19 TCN. Các cổ vật của Assyrian, Hittie, Roma, Hylạp bị cướp tại các di chỉ khảo cổ; Peerru mất rất nhiều đồ gia dụng làm bằng gốm sơn, vải và đồ long chim thuộc thời kỳ trung đại. Việt Nam hiện gần có 2.500 di tích lịch sử văn hóa và hàng triệu hiện vật quý trong các bảo tàng, một phần trong số thuộc sở hữu của cá nhân hay bị chiếm đoạt trái phép.
Đâu là nguyên nhân.
Bà Lyndel Prott – Giám đốc Đơn vị tiêu chuẩn Quốc tế, Ban DSVH UNESCO, lý giải điều này là do các cổ vật dân tộc học và khảo cổ học có một giá trị vượt ngoài giá bán trên thị trường. Trên thực tế, nhiều người tin rằng, các cổ vật được lưu giữ trong nhưng ngôi nhà cổ, tòa án, bảo tàng có thể đổi được rất nhiều tiền. Họ bất chấp mạo hiểm tính mạng và tự do để làm bất cứ việc gì. Mặt khác, cổ vật “sống chung” với đồ giả cổ khiến người có trách nhiệm ở các cửa khẩu biên giới cũng khó phân biệt vàng, thay để có biện pháp bảo vệ.
Chuyên gia Heshuzhong – Vụ trưởng Vụ Văn hóa Nhà nước Trung ương Trung Quốc cho biết: chính từ giá trị của các DSVH động sản, mặc dù đất nước ông đã tiến hành nhiều biện pháp để ngăn chặn những làn sóng mua bán trái phép những thứ hàng hóa vốn rất sẵn ở nước này vẫn không ngừng tăng. Còn theo tiến sĩ Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Bảo tồn – Bảo tàng Việt Nam thì, tựu trung là sự sôi động của thị trường đồ cổ trên thế giới đã ảnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến “thị trường ngầm” ở mỗi quốc gia, trong khi các cơ quan chức năng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ cổ vật, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
Làm gì để bảo vệ di sản văn hóa động sản
Bảo vệ di sản văn hóa nói chung và DSVHĐS nói riêng là một nhiệm vụ rất khó khăn và phức tạp, ngoài nỗ lực của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế. Tại cuộc hội thảo “Công cụ của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa động sản” vừa diễn ra tại Việt Nam, bà Gina Barte, Hiệp hội Bảo tàng Đông Nam Á, cho rằng: đội ngũ người bảo tồn di sản cần được đào tạo có chuyên môn cao và có lương tâm nghề nghiệp. Các công tác kiểm kê phải được cập nhật thường xuyên. Sự ngăn chặn nạn buôn lậu DSVH là một trong nhiều lợi ích mà các nước sẽ thu được khi gia nhập ICOM cũng như tham gia vào dự án OBECT ID (Việt Nam đã làm thí điểm ở Đà Nẵng). OBECT ID là một trong những tiêu chuẩn quốc tế nhằm ghi chép và lưu giữ thông tin tài liệu các cổ vật. Giáo sư – Tiến sĩ Lưu Trần Tiêu, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, khẳng định: “Nếu chúng ta không thể thiết lập được cơ sở dữ liệu thông tin về DSVH thì việc phối hợp quản lý giữa các Bộ, các ngành chức năng, giữa Trung ương và địa phương cũng như hợp tác quốc tế để đảm bảo DSVH sẽ trở nên kém hiệu quả. Và để bảo vệ DSVH thì nhất thiết phải tăng cường nhận thức, trình độ hiểu biết đầy đủ giá trị cổ vật đối với dân chúng như UNESCO đã chỉ ra.
Với riêng Việt Nam, là một trong số nhiều nước chưa tham gia công ước nào của UNESCO về lĩnh vực này, các đại biểu chi rằng, vì lợi ích quốc gia, vì mục tiêu bảo vệ DSVH nhân loại, Việt Nam cần thiết trở thành thành viên của các công ước quốc tế về bảo vệ DSVH và tổ chức ICOM . Đồng thời, việc sớm ban hành Luật DSVH trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các Đại biểu Quốc hội trong kỳ hợp thứ 8, Quốc hội khóa X sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ và gìn giữ DSVH ở Việt Nam.
Hồng Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Mai Sao Phong động – cần có sự kết hợp giữa khai thác và bảo tồn

Lạng Sơn lâu nay vốn nổi tiếng là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh với “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”. Một vài năm gần đây, Mai Sao Phong động thuộc huyện Chi Lăng cũng trở thành điểm dừng chân của khách du lịch trong mỗi chuyến tham quan Lạng Sơn.
Mai Sao Phong động – Sức cuốn hút lạ kỳ
Cách thị trấn Đồng Mỏ 6km Mai Sao Phong động (hay còn gọi là hang Gió) nằm trên địa phận xã Mai Sao, là nơi có đông đồng bào dân tộc Tày, Nùng sinh sống. Từ chân núi lên đến cửa động, du khách sẽ vượt qua 393 bậc thang và dừng chân ở sườn núi với độ cao gần 100 mét so với mặt đất. Trước mắt bạn hiện ra khung cảnh núi non trùng điệp, mây giăng giăng ôm ấp núi thật hùng vĩ, tươi đẹp. Phía ngoài cửa động, từng chùm hoa phong lan đủ sắc màu tỏa hương thơm ngào ngạt, là lời chào nồng nhiệt nhất dành cho du khách. Theo con đường bên trái, chúng ta cùng nhau khám phá những điều kỳ diệu của thiên nhiên ở tầng một của Phong động. Đi suốt chiều dài gần 500 mét, bạn sẽ thấy không khí mát rượi và mỗi thạch nhũ với đủ màu sắc xanh, tím, hồng nhạt, vàng, trắng, đem đến cho bạn một sự liên tưởng lý thú. Sau khi tham quan tầng một, du khách quay ra cửa động rồi tiếp tục đi lên tầng hai, tầng ba của động để ngắm nhìn thạch nhũ lung linh sắc màu, trông quyến rũ như những bức họa do các họa sĩ tài hoa tạo ra. Đến với Phong động, du khách đặc biệt thích thú khu nhũ đá lấp lánh như kim cương có hình ruộng bậc thang với tên gọi “ruộng Tiên”. Vượt qua một đoạn vách đá cheo leo, bạn đã lên đến tầng cao nhất của Mai Sao Phong động, nơi có giếng tiên quanh năm tràn đầy nước mát.
Mai Sao Phong động sẽ thực sự thu hút khách du lịch?
Được phát hiện từ cuối năm 1999, khu thắng cảnh này được Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn giao cho Ủy ban nhân dân xã Mai Sao quản lý từ tháng 10/1999 đến tháng 4/2000. Từ tháng 4/2000 đến nay, Mai Sao Phong động do Ban quản lý thuộc Phòng Văn hóa huyện Chi Lăng quản lý. Mặc dù mới được phát hiện nhưng nhờ vẻ đẹp thực có, có lúc khu thắng cảnh Mai Sao Phong động đã đón tới gần 2000 lượt khách tham, quan trong một ngày. Nhưng hiện tại, lượng du khách đến thăm quan nơi đây đang rất vắng. Nguyên nhân có thể kể đến là con đường từ Ủy ban nhân dân xã Mai Sao vào động khoảng 4km chưa được đầu tư nâng cấp, cầu Vòng Kheo thi công từ tháng 10/2000 đến nay chưa xong nên xe du lịch không thể vào được và du khách phải đi bộ khoảng 3km mới vào đến Phong động. Nhưng có lẽ nguyên nhân chính làm lượng khách giảm là ý thức không tốt của một số du khách đã từng đến đây tham quan. Họ viết, vẽ, chạm khắc lên rất nhiều thạch nhũ của động với mục đích “lưu danh cho đời sau” được biết, hoặc ít ra cũng là để có “kỷ niệm” về một chuyến đi thú vị. Thậm chí, chị Thảo ở nhà may Hương Thảo, thị xã Lạng Sơn còn cho biết, chị khắc tên, địa chỉ nhà may của mình lên nhũ đá để quảng cáo cho hiệu may của mình? Và không ít nhũ đá ở thấp, ngang tầm tay của du khách đã bị đập vỡ ngổn ngang dưới nền. Anh Vi Văn Chân, cán bộ Ban quản lý Mai Sao Phong động cho biết: “Chúng tôi đã có nhiều cố gắng để bảo vệ cảnh quan nơi đây, thường xuyên cử người trực trên động, nhắc nhở du khách không phá hoại cảnh quan, rồi có khi mang cả nước nên để cọ những nhũ đá bị bôi bẩn Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cũng rất quan tâm đầu tư phát triển khu thắng cảnh Mai Sao Phong động như lắp đặt hệ thống đèn màu trang trí, lập dự án phát triển cơ sở hạ tầng… Nhưng những lúc khách đông thì không đủ người để trông nom, theo dõi”. Mong sao trong thời gian tới, Mai Sao Phong động sẽ được quan tâm hơn để có thể khai thác tốt tiềm năng sẵn có cũng như được bảo tồn, gìn giữ để khu thắng cảnh này lại tuyệt đẹp trong mắt tất cả du khách tới đây.
Thủy Tiên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Anh Ghulam Kibria

(32 tuổi, người Bangladet)
Tại sao anh lại chọn Hà Nội làm nơi dừng chân?
Không giống như Ai Cập kỳ vĩ, như rừng Amazon nguyên sinh bí hiểm, như lục địa đen nóng bỏng hoang sơ, Hà Nội – Việt Nam phảng phất một vẻ đẹp dịu dàng và duyên dáng. Hà Nội có một hương vị rất đặc biệt, khiến cho người ta cảm thấy thư giãn. Cái cảm giác mong manh, dịu ngọt quen quen, lạ lạ ấy có một sức hấp dẫn riêng thật khó tả.
Có phải vì Hà Nội đẹp, con gái Hà Nội dễ thương, người Hà Nội tận tình, chu đáo?
Thật ra, không phải dịch vụ nào ở Hà Nội cũng đã “chuyên nghiệp”. Nhưng bù lại, lòng mến khách và nhiệt tình của các bạn đã mang lại cho tôi cảm giác thú vị, gần gũi này.
Sống và làm việc ở Việt Nam đã bốn năm, anh không cảm thấy nhớ nhà sao?
Tôi đã khá quen với cơm Việt Nam, thích nhìn phụ nữ Việt Nam mặc áo dài. Tôi mua tặng mẹ và em gái những bộ áo dài Việt Nam. Một số áo dài, một nụ cười duyên dáng là bản sắc riêng của con gái Việt Nam đã để lại ấn tượng khó phai trong tôi.
Chùa thầy có hang cắc cớ
Chùa thầy cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây, là nơi hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Hội chùa Thầy hàng năm tổ chức từ mồng 5 đến mồng 7 tháng ba âm lịch. Ngày chính hội là mồng 7:
“Nhớ ngày mồng 7 tháng 3
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy”
Chùa Thầy có từ lâu đời. Tục truyền rằng, xưa kia thiền su tử Đạo Hạnh (người làng Láng – Hà Nội), sau khi học pháp thuật từ Ấn Độ trở về, dựng gậy tích, ngày đêm tụ tập ở núi Sài (Sài Sơn). Sau đó, đi khắp 4 phương tham thiên vấn đạo. Lúc ngộ được tâm ấn, Thiền sư trở lại núi Sài giảng đạo, dạy học, làm thuốc giúp dân. Thiền sư còn tổ chức những trò vui như: đành vật, đá cầu, múa rối nước … Nhân dân cảm phục, kính mến gọi Thiền su bằng “Thầy”. Vì thế, mới có cái tên: Chùa Thầy, núi Thầy, làng Thầy …
Quần thể núi Sài gồm 16 quả núi lớn nhỏ “(thập lục sơn)”, núi Thầy được coi là núi mẹ. Các núi có tên như: Long Đẩu, Hoa Pháp, Sơn Tượng … như một ổ rồng vờn, chầu về rồng mẹ (nú Thầy). Theo thuyết phong thủy thì chùa Thầy làm ở giữa hàm con rồng, sân chùa là lưỡi rồng. Hai cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều hình cong, là hai mí mắt rồng. Hai ao con là hai mắt rồng. Nhật Tiên Kiều ở phía Đông, vươn qua ao qua đền Tam Phủ. Nguyệt Tiên Kiều ở phía Tây, qua ao rồng lên núi. Hai cầu này do Trạng Bùng – Phùng Khác Khoan (người làng Bùng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây) xây cung tiến chùa Thầy vào năm 1602.
Làng Thầy dưới chân núi Thầy, mang nhiều nét làng cổ Việt Nam. Nơi đây có chùa, có Thủy Đình xây trên hồ long Trì, là nơi tổ chức múa rối nước hàng năm của hội Thầy.
Trên núi thầy có hang Cắc Cớ, hang Hút Gió, hang Bò … Là nơi hấp dẫ du khách. Trên đó còn có chùa Một Mái, động Thánh Hóa, có đền kỉ niệm nhà bác học Phan Huy Chú và nhà lưu niệm Bác Hồ …
Hang Cắc Cớ, tương truyền hơn 1000 năm trước đây, quân của tướng Lũ Gia đánh nhau với giặt Hán, phải rút về trú ở hang, rồi quyên xin ở đây. Đời vua Bảo Đại đã cho xây một bể sương cao 2 m, dung tích 18m3 để tưởng nhớ và suy tôn những vị đó là Thần. Bởi vậy, hang Cắc Cớ còn có tên là hang Thần.
Cắc Cớ, cái tên nghe vừa quen vừa lạ, vừa gian nan hiểm trở, vừa lôi cuốn hấp dẫn như chính tình yêu … Và ai đó, còn gọi hang Cắc Cớ là hang “tình yêu”.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Định hướng chiến lược – Phần 2

Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở Việt Nam sẽ được phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu. Không gian du lịch sinh thái vùng núi và ven biển Đông bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Bắc Cạn, bắc Thái, các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao được chọn khu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên (Lạng Sơn), rừng văn hóa lịch sử Pắc Pó, Trùng Khánh (Cao Bằng), Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn), Hồ Núi Cốc (Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải Phòng.
Không gian hoạt động du lịch sinh thái núi tây Bắc và Hoàng Liên Sơn chủ yếu phần phía Tây Bắc của hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh thái núi cao sa pa – Phanxi băng và Khu bảo tồn Mường Nhé, nơi đang tồn tại 38 loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như Voi, Bò Tót, Gấu chó, Hổ và Sói đỏ.
Du lịch sinh thái Đồng bằng Sông hồng và không gian chủ yếu thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hóa. Các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc Phương, ba Vì, và Xuân Thủy (khu bảo vệ rừng ngập mặn đất ngập nước (Ramsa) đầu tiên ở Việt Nam.
Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung bộ bao gồm phần phía tây Nam nghệ an, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông Nam Thừa Thiên Huế. So với các các nước trong khu vực Đông Nam á, đây là địa bàn được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – kẽ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều khu rừng nguyên sinh có giá trị.
Phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến Khánh Hòa thuộc không gian du lịch sinh thái của vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các hệ sinh thái điển hình của vùng này bao gồm rừng khộp ở Yok Đôn, đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái núi cao Ngọc Linh. Biodup – Núi Bà; hệ sinh thái san hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây Nguyên cực nam Trung bộ xuống đồng bằng Nam bộ với không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Lâm Đồng – Bình Dương – Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu – Phước Bửu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Biển Lạc – Núi Ông (Bình Thuận).
Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh sông Mê K – ông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp, Cù lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc.
Để mục tiêu phát triển du lịch sinh thái trong hệ thống các khu vực bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia thành hiện thực, hiện nay ngành du lịch đang đề nghị thủ tướng chính phủ thúc tiến hình thành cơ chế tài chính đối với hoạt động kinh doanh du lịch ở các vườn quốc gia trên nguyên tắc không bao cấp, tự hạch toán và cân đối lợi ích kinh tế xã hội giữa khai thác du lịch với bảo tồn phát triển môi trường tự nhiên, quyền lợi ích của cộng đồng địa phương. Về tổ chức mô hình một Hội đồng phát triển du lịch tại các khu bảo tồn thiên nhiên cũng sẽ được xúc tiến thành lập.
Sẽ có 4 chức năng chủ yếu cho cơ quan này gồm: Tư vấn cho chính quyền địa phương về cơ chế chính sách và triển khai các hoạt động du lịch trong khu bảo tồn; điều hòa các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị, cá nhân kinh doanh khai thác du lịch với các đơn vị cá nhân có quyền sử dụng tài nguyên sinh thái và cộng đồng dân cư tại địa phương; tham gia thẩm định các dự án du lịch trong các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia.
Hy vọng rằng với những cơ chế, chính sách hữu hiệu du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên, Việt Nam sẽ thu được kết quả khả quan.
Câu đối
– Đi bạc tóc tới chân trời, về đất mẹ quê cha, qua năm tháng phong ba, mới thấu hiểu ngọn nguồn sông núi
– Bước mòn chân góc biển, đén thăm vùng đất tổ, đã trải qua từng bao giông tố, thêm nồng nàn nghĩa nước tình non.
Bùi Hoàng Anh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Định hướng chiến lược – Phần 1

Du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên, định hướng chiến lược trong thế kỷ mới.
Với 107 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2381.791 ha, trong đó có 12 vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa, lịch sử nên Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển du lịch sinh thái. Sự định hình và khởi sắc của du lịch sinh thái ở các địa phương trong thời gian qua là cơ sở và nền tảng để ngành du lịch Việt Nam hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên một cách ổn định và bền vững.
Bức tranh sơ khai
Hệ sinh thái ở Việt nam bao gồm 5 loại điển hình: Hệ san hô, vùng cát ven biển, vùng đất ngập nước, rừng khô hạn và rừng ngập mặn.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và 255 loài ở vùng biển phái Nam. Bên cạnh đó có 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập nước ẩn chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á. Hệ thống rừng đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học với 12.000 loài thực vật (1.200 loài đặc hữu). 15.575 loài động vật (172 loài đặc hữu). Với tiềm năng phong phú và đa dạng nên ngay từ thời gian đầu của quá trình đổi mới đất nước, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam đã được coi trọng. Nếu như năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn lượt khách quốc tế đến các vùng tự nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số tương ứng đã lên đến 620 ngàn và dự ước 1 triệu lượt khách cho cả năm 2000. Bên cạnh đó hàng năm cũng có thêm 3,5 đến 5 triệu lượt khách nội địa ghé vào các vùng tự nhiên. Nhờ vậy doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhieencungx như vùng đệm hiện chiếm khoảng 25 – 30% trong tổng số doanh thu hàng năm của ngành du lịch.
Đánh giá của ông Doug Hendrie Cố vấn trưởng kỹ thuật dự án bảo tồn rừng Cúc Phương, bức tranh du lịch sinh thái của Việt Nam mới ở mức sơ khai, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có về sự đa dạng và phong phú của nó cũng như vị trí của du lịch sịnh thái hiện nay trong khu vực và trên thế giới. Các nguyên nhân cơ bản hạn chế sự phát triển của du lịch sinh thái Việt Nam cũng giống nhiều nước trong giai đoạn đầu của sự mở cửa và hội nhập gồm: thiếu năng lực nghiên cứu quản lý, chưa thống nhất hệ thống điều hành các khu bảo tồn, hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu và chưa đồng bộ…
Diện mạo mới
Du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý kinh doanh không chỉ đối với Việt Nam mà cho tất cả các nước khác trong giai đoạn mở cửa và hội nhập. Chính vì lẽ đó hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều tra cơ bản quy hoạch những vùng tiềm năng như Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phương, Nam Cát Tiên, Yok Đôn, Côn Đảo, Bình Châu – Phước Bửu…
Bùi Hoàng Anh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đã đến lúc phải giảm giá vé xem ca nhạc

Trong một cuộc “họp kín” của giới tổ chức biểu diễn ca nhạc (thường gọi là “ông bầu”) ở phía Bắc, vấn đề giảm giá vé xem ca nhạc cho khán giả (thông qua vấn đề: Điều tiết các hoạt động biểu diễn; Thành lập Hiệp hội các nhà tổ chức biểu diễn; Giảm catse ca sĩ) được bàn cãi, tranh luận khá nhiều. Bởi giảm giá vé là yêu cầu, đòi hỏi của người xem, xong không đơn giản nói giảm là giảm, bởi điều này có liên quan, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mắt xích khác trong hoạt động tổ chức biểu diễn ca nhạc.
Theo các ông bầu, chỉ có thể giảm giá vé nếu catse ca sĩ giảm. Bởi catse quá cao đã khiến việc “kinh doanh” của ông bầu không có hiệu quả (chi phí cho catse chiếm 1/2, đôi khi 2/3 tổng doanh thu), buộc họ phải xoay qua lấy tiền khán giả bằng việc nâng giá vé. Có nghĩa là, giá vé xem ca nhạc của khán giả phụ thuộc vào catse của ca sĩ và nếu giảm được catse thì giá vé sẽ hạ. Các ông bầu cũng đưa ra vấn đề cụ thể giảm catse và đã nhận được những ý kiến khác nhau từ phía ca sĩ: nào là “cơ chế thị trường, ai có tiền người đó được xem” rồi nào là “có thể giảm catse nhưng phụ thuộc vào chương trình: chương trình kinh doanh một “giá”, từ thiện “giá” khác hoặc “nhiều khi ông bầu bảo lấy giá catse thấp vì vé họ bán ra thấp, chúng tôi đồng ý. Nhưng đến khi biểu diễn mới biết vé bán rất cao. Vậy là họ đã “lừa” chúng tôi, ăn lãi quá nhiều”…. Bởi thế, cho chắc ăn, các ca sĩ đã không cần biết giá vé như thế nào, bán hết được hay không, cứ đòi catse cao. Các ông bầu đã bị “quả báo” cho hành những hành động của họ nhưng kéo theo đó, khán giả bị liên quan, chịu giá vé cao. Vậy là từ thái độ “không giảm catse” của các ca sĩ, hy vọng về giảm giá vé cho khán giả trở nên rất “mong manh”: “Ngoài ra, liên quan đến giá vé xem ca nhạc còn có các yếu tố khác như: giá thuê địa điểm, tiền thuê ban nhạc, phối khí….Giá thuê địa điểm, từ tháng 7 sẽ được tính “mềm” hơn ở cung Văn hóa Hữu Nghị và nhà hát Lớn (ở cung Văn Hóa Hữu Nghị là 25% tổng doanh thu, đảm bảo là thuận lợi cho các ông bầu trong trường hợp rủi ro hay không bán hết vé), khác với trước đây có giá thuê cố định khiến các ông bầu rất dễ lố nếu gặp ”sự cố”.
Còn Nhà hát Lớn lại theo thỏa thuận, tùy chương trình phục vụ chính trị, làm từ thiện hay kinh doanh….Nhưng yếu tố cũng chỉ là một phần nhỏ trong việc giảm giá vé, không có tính quyết định. Tuy nhiên, cũng là đáng mừng khi giảm được khoản nào hay khoản nấy.
Thực tế cuộc sống hiện nay cho thấy việc giảm giá vé xem ca nhạc là rất cần thiết vì người dân có quyền được hưởng các sản phẩm Văn hóa của xã hội. Với mức giá như hiện nay 80.000 – 100.000 – 120.000 đồng, rất nhiều khán giả không có khả năng đến rạp vì bỏ tiền mua vé là đứt mất nửa tháng lương (với mức thu nhập bình thường của mọi người là 400.000 đồng). Theo tính toán của các ông bầu, họ sẽ cố gắng tiết chế để giá vé chỉ từ 40 – 70.000đồng/vé (tất nhiên là khi catse ca sĩ giảm). Với mức này, dù vẫn khá cao song phần nào sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận khán giả đến rạp. Song quan trọng nhất, không lệ thuộc vào có giảm catse ca sĩ hay giá thuê địa điểm….. là sự can thiệp của các cơ quan chức năng. Theo nguồn tin từ Cục Nghệ thuật biểu diễn, từ này Cục đang xét xét để có các hướng giải quyết, giúp “một tay” vào việc giảm giá vé ca nhạc. Vậy là việc giảm giá vé chưa thể thực hiện ngay song nó đã hứa hẹn vào một ngày không xa.
Ngọc Huyền – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Quầy bar kiểu hang động

Trong ảnh là một quầy bar rất đặc biệt và ngộ nghĩnh trong một khách sạn ở thủ đô Băng Kốc – Thái Lan. Trên tường của quầy bar này là các ngõ ngách nhỏ được chiếu sáng bằng các loại đèn màu. Phía trên trần của quầy bar này là những nhũ đá nhân tạo trông rất giống nhũ đá thật. Khách hàng đến đây uống rượu, bia hoặc ăn cooktail đều có cảm giác như mình đang đứng hay ngồi trong một hang động thật sự. Quầy bar này cũng tạo không khí mát mẻ cho khách hàng cho nên các loại đồ uống ở đây cũng có thể không cần ướp lạnh. Chính vì vậy mà quầy bar này rất hấp dẫn khách hàng sành điệu.
Nguyễn Trãi ở Đông Quan vở Opera Việt Nam sắp ra lò
Sau các vở nhạc kịch như “Bên bờ Krông – pa” của nghệ sĩ Nhật Lai, “Cô sao”, “Người tạc tượng”.. của cố nghệ sĩ Đỗ Nhuận ra đời vào những năm 70, cho đến nay, do nhiều lý do chủ quan và khách quan nên chúng ta chưa có vở mới dựng cho Opera Việt Nam mà phần lớn chỉ dựng lại những vở nhạc kịch nước ngoài. Với mục tiêu khôi phục lại Opera Việt Nam, Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam đã phối hợp với các nghệ sĩ tên tuổi dựng vở mới “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” theo kịch bản chuyển thể cho Opera của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận viết năm 1980 từ kịch bản văn học của nhà văn Nguyễn Đình Thi viết năm 1979. Khác với Cô Sao chất liệu dân tộc Thái, “Người tạc tượng” chất liệu Tây Nguyên “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” được nghệ sĩ Đỗ Nhuận viết trên cơ sở khai thác chất liệu dân ca Đồng Bằng Bắc Bộ. Vở nhạc kịch gồm 3 màn, dài 120 phút, mô tả lại thời gian Nguyễn Trãi trụ lại Đông Quan sau khi từ Trung Quốc trở về năm 1407 đến năm 1417. “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” là vở nhạc kịch Việt Nam có quy mô lớn được Bộ văn hóa – thông tin và nhà hát Nhạc Vũ kịch đầu tư dàn dựng công phu, tập hợp đông đảo lực lượng đạo diễn, diễn viên tên tuổi trong và ngoài nhà hát Nhà văn Nguyễn Đình Thi tham gia chỉnh sửa kịch bản, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân phối khí và hướng dẫn dàn nhạc, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đình Nghi đạo diễn sân khấu, nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Công Nhạc biên đạo múa cùng các nghệ sĩ như Trần Hiếu, Cẩm Liên, Trọng Thủy, Mai Tuyết, Hồng Lan, Ngọc Định… Theo ông Nguyễn Công Nhạc, giám đốc nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, cho biết: Sau 9 tháng tập luyện, cho đến lúc này Nguyễn Trãi ở Đông Quan đang ở khâu hoàn tất. Hy vọng Nguyễn Trãi ở Đông Quan sẽ ra mắt khán giả thủ đô vào dịp tết dương lịch năm 2001. Với sự dàn dựng quy mô, hoành tráng cùng tài nghệ của các nhà đạo diễn nổi tiếng, dàn diễn viên xuất sắc Nguyễn Trãi ở Đông Quan sẽ là món quà quí giá tặng công chúng nhân chào đón Thiên niên kỷ mới, chào đón 1 nghìn năm Thăng Long và cũng là một mốc son đánh dấu sự phát triển của Opera Việt Nam.
Mốt chào xuân
Mùa xuân làm bừng lên nét vui tươi, hồ hởi trên gương mặt thiếu nữ. Ai cũng như cảm nhận được cái không khí rộn ràng, ấm áp và giàu chất thơ của mùa bắt đầu cho một năm mới. Chào xuân về, chúng tôi xin gửi tặng bạn các mẫu trang phục đẹp đón xuân.
Lê Văn Tấn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.