Chuyện người và đất tại khu du lịch Kỳ Vân – Phần 1

Hòa trong dòng người đến Khu du lịch Kỳ Vân, Long Hải nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng, tôi chợt nhận ra rằng, sự hấp dẫn của khu du lịch này không chỉ dựa vào tiềm năng về rừng về biển mà còn nhờ ở đầu óc táo bạo của những người kinh doanh và quản lý tại đây.
Chuyện về người con gái mang dòng máu Việt Nam
Mảnh đất Bà Rịa – Vũng Tàu vốn mang trong lòng nhiều huyền thoại, trong đó có huyền thoại về những rừng anh đào và ngọn đồi phát ra âm thanh bên bờ biển xanh Long Hải. Chuyện kể rằng trong 4 vùng đất thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mà vua Bảo Đại đã từng chọn làm nơi nghỉ dưỡng, Long Hải là khu vực được ông thích nhất vì những tiếng động lạ thường phát ra mỗi độ đêm về trên vùng rừng hoang vu nhiều voi lắm cọp. Chưa có một luận cứ khoa học nào chứng minh tác dụng của các loại âm thanh huyền bí kia nhưng theo ý kiến chủ quan của nhiều nhà khoa học thì đó là sự cộng hưởng nhiều loại sóng từ trường tại một vùng địa lý đặc biệt gần Đèo Nước Ngọt, dưới chân mũi Kỳ Vân – Long Hải. Ngày nay âm lượng tiếng động ấy không những không mất đi mà còn có phần tăng thêm trong những ngày trời quang mây tạnh… Và, cùng với màu xanh quyến rũ của biển, của rừng, Long Hải nói chung và Khu du lịch Kỳ Vân đang cuốn hút hàng triệu du khách thập phương đến tham quan và tĩnh dưỡng.
Khu du lịch Kỳ Vân nằm gọn trong 13ha rừng và đất rừng, kề trục lộ 44 thị trấn Long Hải, Bà Rịa – Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 110km đường chim bay. Năm 1997, Công ty Du lịch Long Hải được Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho phép liên doanh với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoàng Dung – Thành phố Hồ Chí Minh cải tạo khu căn cứmà một thời vua Bảo Đại làm nơi nghỉ dưỡng thành khu du lịch sinh thái với tên gọi Kỳ Vân. Ba tháng cuối năm 1997 và năm 1998, mặc dù vừa triển khai xây dựng vừa kinh doanh nhưng khu du lịch này vẫn thu hút được khách và mang lại nhiều lợi nhuận. Cuối năm 1998, khu du lịch này chuyển thành Công ty cổ phần với sự liên doanh tay ba: Công ty Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoàng Dung, bà Anoa Dussol Perran (Việt kiều Pháp) và được gắn thêm tên giao dịch quốc tế “Anoasis Beach Resort”. Chuyện về nữ Việt kiều bỏ vốn đầu tư khu du lịch này cũng khá cảm động. Chị Hoàng Thị Phương Dung, Giám đốc khu du lịch này kể lại rằng, bà Anoa Dussol Perran sang định cư bên Pháp từ năm lên 4 tuổi, sau 32 năm phiêu bạt xứ người, năm 1992 bà về nước, bỏ vốn liên doanh với Công ty bay dịch vụ hàng không VASCO và cho ra đời một phi đội trực thăng 4 chiếc phục vụ khách du lịch từ Pháp đến Việt Nam. Theo chỉ đạo của Anoa, tuyến đường hàng không dài 1.400km đi qua nhiều nước này được chia ra 42 điểm dừng chân để đón trả khách và tiếp thêm nhiên liệu, lương thực thực phẩm. Nhưng rồi do nhiều nguyên nhân khách quan, lượng khách du lịch đến với phi đội trực thăng này giảm dần. Sau ba năm… điều mà mọi người trong liên doanh trực thăng này không muốn cũng đã xảy ra: giải thể trước thời hạn… Nhưng Anoa không nản, chị tiếp tục bỏ vốn đầu tư sang lĩnh vực du lịch. Cùng với Công ty Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoàng Dung, Anoa đã bỏ 50 tỷ đồng đầu tư cho Khu du lịch Kỳ Vân… và chị cùng những người bền gan vững chí trong liên doanh tay ba này đã thắng… Thắng lợi này đã mở ra luồng sinh khí mới cho việc xã hội hóa hoạt động du lịch và triển vọng về du lịch sinh thái ở Bà Rịa – Vũng Tàu trong giai đoạn mới.
Ngọc Luận – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Cách tính nào hợp lý – Phần 2

Kể từ ngày 1/10/2000, mặc dù bảng cước điện thoại nội hạt tại nhà thuê bao do tổng cụ bưu điện ban hành đã quy định cụ thể mức cước cho từng phút đàm thoại nội hạt nhưng vẫn phân chia ra làm 03 mức 120 80 40 đồng/phút chưa có VAT nhưng việc theo dõi lưu lượng số phút đàm thoại nội hạt để thường xuyên thay đổi giá cước vẫn rất phức tạp như trước đây – trong thực tế thì hầu như các khách sạn nào áp dụng mức cước như vậy. Mặt khác, theo quy định hiện hành thì khách sạn là doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ viễn thông cho bất cứ ai đến khách sạn. Điều đáng nói là bất cứ người nào cũng đều có thể ra, vào khách sạn và sử dụng dịch vụ viễn thông, nơi có cước điện thoại nội hạt rẻ hơn rất nhiều so với giá cước nội hạt tại các điểm công cộng bưu điện đại lý, từ đó sẽ dẫn đến những bất lợi về giá cước, tạo ra sự cạnh tranh không công bằng, có thể dẫn đến thiệt hại cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại nội hạt tại các điểm công cộng. Hiện nay tại hầu hết các khách sạn,cước điện thoại nội hạt được thu rất tùy tiện, không theo quy định thống nhất. Mức cước điện thoại nội hạt tại khách sạn đều do chủ khách sạn quy định với các mức phổ biến như sau: 1.000 đồng, 1.500 đồng, 2.000 đồng đã có thuế VAT và phụ thu… cho một cuộc đàm thoại dưới 3 phút, có khách sạn thu theo bảng cước điện thoại nội hạt như tại bưu cục, đại lý bưu điện cộng thêm phụ thu, thậm chí có khách sạn quy định phút đầu 1.400 đồng +_ phút tiếp theo 840 đồng.
Kiến nghị
Để cước điện thoại nội hạt tại khách sạn được ổn định, thống nhất, tránh sự tùy tiện quy định của các chủ khách sạn như hiện nay, đảm bảo trật tự quản lý giá cước bưu chính viễn thông, đảm bảo lợi ích của người sử dụng và của khách sạn thì các cơ quan có thẩm quyền như: Tổng cục bưu điện, Tổng cục du lịch … cần xem xét nghiên cứu trên cơ sở tính đến các điều kiện thực tế tại khách sạn đã ra văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết các quyết định số 477/TTg, ngày 3/7/1997 và quyết định 99/1998/QĐ – TTg, ngày 26/5/1998 của thủ tướng chính phủ, hoặc có thể theo thẩm quyền, quy định một mức cước điện thoại nội hạt riêng của khách sạn. Tương tự như vấn đề cước điện thoại nội hạt tại khách sạn còn có cước Fax tại khách sạn cũng có nhiều cách hiểu áp dụng các bảng cước khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét và quy định cụ thể
Mở chuyên mục mới cho thiếu nhi trên trang Web
Nhà xuất bản Kim Đồng và công ty tin học ONE vừa chính thức mở chuyên mục mới trên trang Web để phục vụ thiếu nhi. Chuyên mục mới này bao gồm các danh sách mới, thư viện, thẻ đọc… và 10 tủ chuyên đề bao gồm: tủ sách tác giả, tủ sách vàng, tủ sách thơ với tuổi thơ, tủ sách danh nhân…
Đây là món quà dành cho các em trong dịp hè này. Các em có thể tìm đến chuyên mục mới này trên trang Web dành cho thiếu nhi của nhà xuất bản Kim Đồng và công ty tin học ONE mà không phải mất tiền
Quan hệ hàng không Việt Nam – UAE
Vừa qua, tại Abu Đabi, ông Nguyễn Tiến Sâm cục trưởng cục hàng không dân dụng Việt Nam thay mặt chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ông Mohamet la – li – a AL – Suwedi, trợ lý thứ trưởng phụ trách về hàng không bộ giao thông vận tải Các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất đã ký chính thức “Hiệp định giữa chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất về vận chuyển hàng không”. Hiệp định là cơ sở pháp lý thực hiện giao lưu hàng không Việt Nam UAE. Đây là sự kiện quan trọng trong quan hệ hàng không giữa hai nước, thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam và UAE , tạo điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế – văn hóa và khoa học kỹ thuật giữa hai nước. được biết đây là hiệp định thứ 51 Việt Nam ký với các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Cách tính nào hợp lý – Phần 1

Cước điện thoại nội hạt tại các khách sạn Cách tính nào hợp lý.
Hiện nay việc cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông tại khách sạn chưa được ổn định và thống nhất bởi sự quy định tùy tiện của các chủ khách sạn khiến cho người sử dụng chưa hài lòng. Vậy cần chọn cách tính cước điện thoại nội hạt tại khách sạn theo mức cước nào cho hợp lý?
Khách sạn nói gì?
Hiện nay việc chọn cách tính cước điện thoại đang có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng: khách sạn là nơi khách thập phương có thể đến bất cứ thời điểm nào nên nếu khách sạn muốn là điều có thể sử dụng dịch vụ viễn thông tại khách sạn. Do vậy, việc cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông tại khách sạn cũng sẽ tương tự như các điểm công cộng. Mặt khác, bảng cước điện thoại nội hạt tại các điểm công cộng do Tổng cục bưu điện quy định nên việc áp dụng bảng cước trên để tính phụ thu và cước dịch vụ viễn thông tại khách sạn là phù hợp với quyết định số 477/TTg, ngày 03/07/1997 của Thủ Tướng chính phủ. Ông Đặng Văn Kiên – kế toán trưởng khách sạn Nikko cho biết: với tiêu chuẩn khách sạn 5 sao, chúng tôi được tổng cục bưu điện cho phép tính phụ thu ở mức 10 – 15%. Với cách tính này, nhiều khi chúng tôi cũng bị khách hàng phàn nàn về giá cước quá cao, nhưng họ không hiểu rằng chúng tôi đầu tư quá lớn cho dịch vụ viễn thông, trong khi đó các khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 – 2 sao cũng được tính phụ thu ở mức 10 – 15%. Nên chăng, ngành biêu chính viễn thông cần có sự phân phối hợp lý giữa các doanh nghiệp khách sạn về mức phụ thu để họ có thể có cách tính cước hợp lý cho người sử dụng.
Có ý kiến lại cho rằng: Quyết định số 477/TTg, ngày 3/7/1997 của thủ tướng chính phủ về phụ thu cước viễn thông chỉ cho phép khách sạn phụ thu theo tỉ lệ phần trăm tùy thuộc vào tiêu chuẩn của khách sạn; tức là cước cuộc gọi khách hàng gọi ở khách sạn, khách sạn phải trả cho bưu điện các đơn vị thuộc VNPT bao nhiêu thì khách sạn chỉ được phụ thu trên mức đó. Mặt khác để cung cấp dịch vụ viễn thông, khách sạn chỉ cung cấp qua một trong các hình thức thuê bao điện thoại, thuê bao trung kế CO, EM hoặc trung kế số với mỗi hình thức này đều có mức cước riêng như trên do tổng cục Bưu điện quy định. Do đó, khách sạn chỉ sử dụng bảng cước điện thoại nội hạt áp dụng cho các hình thức thuê bao tương ứng để tính cước điện thoại nội hạt tại khách sạn.
Ông Hồ Ngọc Chương – giám đốc khách sạn Phương Nam cho rằng: với mức cước phụ thu 10% mà tổng cục bưu định quy định cho phép chúng tôi sử dụng là hợp lý. Bởi ngoài việc khấu hao máy, chúng tôi còn phải tính vào cước phụ trội của dịch vụ viễn thông mà khách sạn phải trả.
Đánh giá của bưu điện
Căn cứ vào quyết định số 477TTG, ngày 3/7/1997 và quyết định số 99/1998/QĐ – TTg, ngày 26/5/1998 của thủ tướng chính phủ và các bảng cước điện thoại nội hạt hiện hành của tổng cục bưu điện có thể nhận thấy:
Nhìn chung các ý kiến tương đối phù hợp với các quy định hiện hành nhưng khi áp dụng trong thực tế nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập và rất khó vận dụng. Trước ngày 1/10/2000, cước điện thoại nội hạt tại nhà thuê bao theo quy định của tổng cục bưu điện là cước khoán, thì việc thay đổi 01 phút điện thoại nội hạt hay 1 cuộc gọi tại khách sạn để phụ thu của khách hàng là bao nhiêu cho đúng là không thể được, bởi vì cấu thành cước cước thuê bao, cưới đàm thoại, chưa rõ ràng hoặc một số phút điện thoại nội hạt đã vượt mức khoán thì có thu theo cước phụ trội không và việc theo dõi khi vượt quá mức khoán cũng rất khó khăn.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Rắn trong khách sạn

Khách sạn Sài Gòn nằm ở đường Đông Du, quận nhất thành phố Hồ Chí Minh, đã được Tổng cục du lịch công nhận là khách sạn quốc tế ba sao, được chủ tịch nước thưởng huân chương lao động hạng ba. Bây giờ nó là một khách sạn có tầm cỡ trong cả nước, sạch sẽ văn minh, không còn bất kỳ con côn trùng nào.
Nhưng cũng “nó”, mới chỉ cách đây 10 năm, trong quyển sổ hướng dẫn du khách do nhà sản xuất bản Singapore in năm 1990 có mấy dòng”… Khách sạn Sài Gòn có nhiều côn trùng”. Thú thật, xem đến đó tôi bực mình. Tự ái nghề nghiệp nổi lên, tôi quyết định trong lòng phải làm chuyển biến căn bản tình hình, tôi cứ nghĩ rằng đó chỉ là những con muỗi, con kiến, thằng lằng, dán, chuột, … những côn trùng ở vùng nhiệt đới, nào ngờ…
Tháng 3 năm 1990, trời nóng lắm, trong khách sạn hầu hết là phòng quạt, hơi nóng từ ngoài trời tràn vào bên trong, chiếc quạt trần gắn ở giữa phòng chạy lờ đờ một phần vì điện yếu, một phần quạt cũ, cánh quay lặc lìa. Buổi chiều gần như mọi người phải ra đứng ở lan can hóng mát.
5 giờ chiều, tôi đang ở hàng hiên. Phía bên trong nhà hàng đang hoạt động. Bỗng một con rắn bay vèo từ trên lầu 1, ngang qua chỗ tôi và những người đồng nghiệp đang đứng, rơi xuống mặt đường tiếng “bịch”, nó bò dọc theo đường rồi rẽ ngang, mọi người dạt ra, con rắn bò vội vã, nhưng vì đường nhựa, độ nhám lớn, nên nó trườn rất khó khăn. Chỉ vài phút sau, nhân viên bảo vệ của khách sạn đập nó mang ra phía sau bếp… Mọi người bàn tán về con rắn, nhưng chẳng biết nó từ đâu chuôi ra. Cho đến một hôm, dãy mười phòng duy nhất của khách sạn lắp đặt máy lạnh và bình nước nóng tự chế, đặt trên cái lỗ tròn trong toilet, có từ thời chế độ cũ. Bình nước nóng nhỏ hơn cái lỗ, công tắc điện nằm dưới chiếc bình….
Một buổi chiều, tiếng la hét hoảng hốt của một phụ nữ châu u, người nhân viên trực phòng báo cho tôi, giọng nghiêm trọng lạ thường… Tôi có mặt và đứng ngay ngã ba nơi người phụ nữ đang đứng trong tình trạng không có áo quần. Tôi hỏi:
– Thưa bà, có việc gì?
Bà ấy không nói được, miệng như cứng lại, ú ớ. Người xúm lại ngày một đông đúc tôi sực nhớ bà ấy đang ở ngoài hành lang trong trạng thái khó xử…
Tôi chỉ vào người bà ấy, nói:
– Thưa bà, …
Bà ta nhìn xuống, dường như mắc cỡ, phản xạ tự nhiên của người phụ nữ… Bà ta lấy hai tay che ngực của mình rồi chạy ào vào phòng, đứng ở gốc cửa. Tôi bèn vào theo, sau khi lấy chiếc khăn tắm đưa bà ấy, tôi hỏi:
– Thưa bà có việc gì?
– Rắn …
– Ở đâu?
Bà ấy chỉ trong toilet. Thú thật, tôi không tin. Ngay giữa thành phố, trong khách sạn, tường xây, chỗ nào cho rắn ở? Rắn ở đâu ra?
Tôi thận trọng bước vào, nhìn gần nhìn xa hơn, chẳng thấy gì cả. Tôi quay ra bà ấy kéo tay tôi chỉ trên trần, chỗ bính nước nòng, bà ấy nói:
– Tôi đứng trong bồn tắm thò tay ra công tắc điện để nối điện bình nước nóng, trên đó có một con rắn thò đầu và “khè”…
Quả thật tôi cho cây thước lên qua công tắc điện thì một cái đầu rắn lú ra dường như nó đang phùn mang, nhưng ở trên đó tối, tôi không nhìn thấy, cò âm thanh con rắn “khè” thật dài, tôi nghe rất rõ.
Sau khi đổi phòng cho bà ấy, biết đích xác con rắn ở trong khách sạn, bây giờ an hem mới cho tôi biết, hơn một năm trước đây, nhà hàng kinh doanh rắn Trí Kỷ, đã làm sống chuồng một rọ rắn hổ ở lầu 8… Những ngày tiếp theo, con mèo tam thể canh giữ chuột ở bếp, tấn công con hổ mang con ở ngay cửa bếp. Chẳng biết cuộc chiến đấu ra sao? Chỉ biết con rắn chết, dài gần hai gang tay. Con mèo ngồi ở ngay đầu con rắn, thi thoảng một chân đặt lên đầu con rắn rồi rút lại. Nó ngồi canh con rắn cho tới sáng…
Vậy là, tôi đã biết rắn ở trong khách sạn, còn số lượng sổng bao nhiêu? Bây giờ nó đẻ rắn con cỡ nào? Tôi không thể biết được. Chúng tôi quyết định phải bắt diệt bằng hết rắn mới có thể kinh doanh được. Chưa nói đến người ngoại quốc, khách Việt Nam cũng không thể nào chấp nhận, bỏ tiền ra để sống trong sợ hãi và nguy hiểm.
Thưa ông, rắn không thể nào bắt hết được, biết ở đâu mà bắt. Người thợ bắt rắn từ củ chi lên, sau khi khảo sát, ông lắc đầu, có thể ông ta nói đúng, cũng có thể ông ta ngại, bởi vì mỗi tầng lầu rộng gần 600 mét vuông, khoảng trống từ trần đến tấm bê tong chỉ khoảng nửa thước, muốn bắt phải bò, không có đèn, tối, nguy hiểm, … Thế là, chúng tôi quyết định tự làm tự mình làm phải bắt hết rắn ở khách sạn.
Một tuần tảo thanh rắn, bằng trí thông minh, chúng tôi đã gom toàn bộ rắn vào một đường cống và bắt hết. Hơn chục con rắn hổ mang lớn và hàng trăm con rắn con, chẳng con nào chạy thoát.
Đã 10 năm, từ một khách sạn bị xuống cấp nặng nề. Đến nay, khách sạn chúng tôi lột xác, phòng ngủ sang trọng, các dịch vụ vui chơi giải trí hiện đại, phong cách phục vụ văn minh, lịch sự. Tất cả côn trùng đã được giải quyết triệt để, căn bản. Bây giờ trên sách hướng dẫn du lịch nói về khách sạn Sài Gòn chỉ còn vẻn vẹn “sạch sẽ” tiện nghi hiện đại, phóng cách phục vụ thân tình.
Mùa xuân năm Tỵ. Bây giờ nhắc lại chuyện rắn ở trong khách sạn, ngay nhân viên mới của khách sạn còn ngỡ ngàng. Nhưng chúng tôi thực sự đã trải qua những ngày căng thẳng xen lẫn niềm tự hào nhiều năm liền là khách sạn đứng trong hàng các khách sạn điển hình của thành phố và của cả nước.
Lê Thành Chơn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Ấn tượng từ một triển lãm ảnh

Trung hậu, đảm đang bốn chữ vàng dành cho phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam, đã thật sự được nổi bật qua ống kính của nghệ sĩ nhiếp ảnh gia Hàn Quốc Yoon Chu Yung, trong tuần lễ triển lãm ảnh của ông từ ngày 10 – 17/5/2-1 tại 29 Hàng Bài, Hà Nội.
Đến Việt Nam sau khi hai nước lập quan hệ ngoại giao năm 1992, ông Yung đã đặc biệt ấn tượng những hình ảnh chân dung người phụ nữ Việt Nam. Từ những nữ sinh duyên dáng trong tà áo dài đền những người phụ nữ, người vợ người mẹ, cụ bà ở những mảnh đời, những công việc khác nhau đều toát lên một phẩm chất chung, đó là tình thương, lòng quả cảm và sự bao dung cao cả và đặc biệt hơn nữa là nghị lực sống tràn trề. Tại triển lãm, khi trả lời có dụng ý gì mà sử dụng toàn bộ nền tảng cho ảnh của mình, ông nói rất tự nhiên: tôi không có dụng ý gì, nhưng kinh nghiệm 21 năm làm nghề, nên tôi cảm thấy quá màu trắng đen, tâm hồn của con người hiện lên thật hơn và hiệu ủa rõ nét hơn.
Thực vậy, chỉ nhìn tổng quan ba gian phòng triển lãm, ta nhận thấy rõ chủ ý của người nghệ sĩ. Quá khứ hào hùng, quá khứ đau thương của những năm tháng đã qua như ùa về cùng một lúc. Hình ảnh những người phụ nữ sau nỗi đau chiến tranh hiện lên như một minh chứng hùng hồn cho tội ác của kẻ xâm lược, đồng thời cũng bật lên khát vọng sống, tình yêu công việc và nghị lực mạnh mẽ của họ. Những người phụ nữ dù đã mất hai tay hay mất cả hai chân như chị Nguyễn Thị Phong, chị Trần Thị Hồng… vẫn vươn lên để vượt qua những khó khăn của đời thường. Với nghệ sĩ Yung : dù bất kỳ lĩnh vực lao động chân chính của mình vào đó. Những ánh mắt, nụ cười vẫn như thường trực trên môi. Ở vị trí nào, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam cũng thật tiêu biểu, thật sống động và thật đáng khâm phục.
Đặc biệt hơn, ngay cả những công nhân nặng nhọc nhất đến những công việc ồn ào, xô bồ nhất, họ vẫn rất đẹp, rất đáng trân trọng về đức tính chịu thương chịu khó trong công việc.
Đến với triển lãm, khách tham quan đánh giá rằng: “Nghệ sĩ Yung đã gắn kết tính chân thực của cuộc sống quá khứ vào hiện tại, đặc biệt là ông đã nhấn mạnh vào chính người phụ nữ Việt Nam đã có nguồn động lực để đưa Việt Nam đến tương lai tươi sáng hơn”. Sau bao nỗi đau mất mát về thể chất lẫn tinh thần, người phụ nữ Việt Nam hiện lên vẫn mạnh mẽ, dũng cảm và cũng rất phi thường.
Có khách tham quan cho rằng: nhìn ở góc độ nghệ thuật nhiếp ảnh, hình như những bức ảnh của ông mang đậm tính báo chí nhiều hơn là nghệ thuật. Ông Yung chỉ mỉm cười nói rằng: “Mặc dù đã từng là tổng biên tập thời báo Chosun Ilb ở Hàn Quốc nhưng tôi có quan điểm rằng, nghệ thuật khách tách rời thực tế, nghệ thuật chỉ tồn tại khi con người biết sáng tạo ra nghệ thuật. Tôi phải gắn liền với thực tế mà thực tế bao giờ cũng đi đôi với yếu tố thời sự, và được sự quan tâm của con người”.
Chỉ có sự nhạy cảm tinh tế của người nghệ sĩ cùng với tấm lòng, tình yêu chân thực và sự đồng cảm sâu sắc của người phụ nữ, ông Yung mới khám phá được nét đẹp riêng của người phụ nữ Việt Nam dưới cái nhìn nhân văn. Điều quan trọng hơn tất cả là nghệ sĩ Yung đã chính thức cho thế hệ trẻ ngày nay thấy được những người chị, người mẹ, cụ bà của họ đã và đang được sống lặng lẽ mà rất lành mạnh.
Mọi sự an bài: giải vô địch quốc gia chuyên nghiệp đầu tiên của bóng đá Việt Nam kết thúc … Phải thừa nhận tính chất chuyên nghiệp đã nhen nhúm cho bóng đá nước ta luồng không khí mới. Nhưng rất tiếc có không ít trận bóng đá ma cùng cách điều hành không thuyết phục của ban tổ chức, tiếng còi thiên lệch của trọng tài… trở thành một điều tai tiếng, chưa tạo được lòng tin cho người hâm mộ. Đành đợi mùa xuân sau xem thế nào vậy!!
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Chuyện một người phục vụ bàn thế hệ trước

Đầu năm 1980, chị Lê Thị Nguyệt Mỹ “đem chuông đi đấm nước người” trong Hội thi tay nghề quốc tế tại một nước Đông u. Lúc đó chị Nguyệt Mỹ đang học bổ túc quản lý khách sạn ở Trường Du Lịch Hà Nam thì được Công ty Du lịch Hà Nội cử đi dự thi về nghệ thuật phục vụ bàn ăn Âu.
Bí quyết của chị là sự tự tin mặc dù thí sinh có đủ mặt anh tài các nước. Chẳng hề run sợ trước mặt các giám khảo ngoại quốc, chị bình tĩnh nhận đề thi là bày bàn ăn cho một bữa tối đón bốn khách u. Chị ra quầy chọn dụng cụ ăn uống và khăn các loại rồi ung dung bê đến phía chiếc bàn được phân công chuẩn bị. Việc đầu tiên là trải khăn phủ bàn. Chị cầm hai mép khăn rủ nhẹ rồi/ “quăng” lên mặt bàn gần như chính xác chẳng bên nào dài bên nào ngắn, chỉ cần xê xích chút ít, vuốt ve cho tấm khăn phẳng phiu “dán” xuống mặt bàn rồi đặt 4 “cuve” ra bốn cạnh, gồm một đĩa xâu dưới một đĩa nông, bên phải đĩa ăn đặt một dao ăn, một thìa súp, bên trái đĩa là chiếc dĩa nhọn. Cả từng ấy thứ ngang bằng như nhau cách mép bàn đúng 1,5cm. Bình thường, phục vụ khách u ở nhà là như vậy, đến nơi thi nếu cũng dập khuôn như thế thì ai chẳng làm được. Bày xong là lúc chị giở “bửu bối” chuẩn bị sẵn từ nhà mang đi, đó là những cánh hoa phượng vĩ còn tươi nguyên cất trong tủ lạnh nơi chị ăn nghĩ ở nước ngoài. Chị tách từng cánh đỏ chói xếp vòng quanh bàn trừ phần trước mặt khách. Màu đỏ rực rỡ in trên nền khăn phủ bàn trắng muốt như một bức tranh lộng lẫy khác hẳn các bàn ăn của các thí sinh bạn. Ban giám khảo trầm trồ khen ngợi: “Quả là một bàn ăn có sự sống” cho dù chưa có khách ngồi ăn. Trước phút kết thúc cuộc ứng thí, bất ngờ một dòng chữ Pháp “Bon appétit” (Chúc ăn ngon) hiện lên ở một cạnh ngoài. Hóa ra đó là sợi dây len đỏ, bện to như sợi thừng, trong luồn dây đồng và uống theo chiều mép bàn như dòng chữ viết lên khăn trắng. Quả là sáng tạo, khách chưa từng nhìn thấy hiện tượng thẩm mỹ kỳ lạ này trong phòng ăn khách sạn và ban giám khảo chỉ còn cách hạ bút cùng nhau cho điểm 10. Thế là chị Nguyệt Mỹ đoạt giải nhất “bàn tay vàng” về công nghệ phục vụ bàn ăn trong khách sạn.
Sau kỳ thi đó, về nước chị được Tổng cục Du lịch đề bạt làm Phó giám đốc Khách sạn Thắng Lợi, hồi ấy là khách sạn lớn và hiện đại nhất ở Hà Nội. Thời kinh tế thị trường, chị chính thức làm giám đốc một khách sạn mới ở trung tâm thành phố, tiếp tục quản lý cho đến khi được nghỉ hưu.
Người phục vụ bàn thế hệ trước không có mặt ở khách sạn nữa nhưng chuyện hành nghề của chị đã mấy ai quên? Nhiều người nói: chị là người chẳng những tinh thông nghiệp vụ lại thông minh và sáng tạo. Thực ra, kinh nghiệm làm bàn nhiều năm ở khách sạn Bờ Hồ đã đưa dẫn chị lên đài vinh quang. Chị đã để lại cho thế hệ trẻ nối tiếp chị bài học quí giá là phấn đấu tự rèn luyện tay nghề và suốt chặng đường phục vụ trong khách sạn, lúc nào cũng tìm tòi khám phá ra điều mới lạ để tích lũy cho bản thân. Nhưng đáng quí hơn cả là chị không kiêu căng tự mãn, luôn thấy còn nhiều điều phải học hỏi thêm các bạn đồng nghiệp xung quanh. Phải chăng đó cũng là một tấm gương sáng cho thế hệ sau soi chung.
Công ty du lịch dịch vụ dầu khí việt nam: đại hội đại biểu công nhân viên chức năm 2001
Ngày 27/4/2001, tại Vũng Tàu, Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam đã mở đại hội đại biểu công nhân viên chức năm 2001. Dự đại hội có 119 đại biểu thay mặt cho gần 2000 cán bộ công nhân viên toàn Công ty.
Năm 2000, Công ty thực hiện tổng doanh thu 363 tỷ đồng, bằng 115,9% kế hoạch, trong đó, khối trực thuộc đạt 190 tỷ đồng bằng 117% kế hoạch, khối liên doanh và công ty cổ phần đạt 173 tỷ đồng bằng 116,10% kế hoạch. Nộp ngân sách cho Nhà nước 37,1 tỷ đồng, bằng 125,58% kế hoạch. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 960.000đ/người/tháng. Công suất phòng đạt 51,6% tăng 5,03% so với năm 1999. Kinh doanh dịch vụ dầu khí có mức tăng trưởng cao. Năm 2001, Công ty phấn đấu tăng 10% doanh thu so với năm 2000, nộp ngân sách 45 tỷ đồng, cơ sở vật chất được đổi mới và phát triển theo yêu cầu sản xuất kinh doanh bảo toàn và phát triển vốn, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên chức.
Quý I/2001: Bảo tàng chứng tích chiến tranh đón 102.205 lượt khách
Quý I/2001, Bảo tàng chứng tích chiến tranh (28 Võ Văn Tần, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh) đã đón 102.205 lượt khách đến tham quan, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó lượng khách nội địa là 49.782 lượt (giảm 26,1%), khách nước ngoài đạt 52.423 lượt (tăng 75,8% so với quý I/2000). Hiện khách du lịch Nhật đang dẫn đầu về số lượng khách nước ngoài đến Bảo tàng (35%), đứng thứ nhì là du khách Mỹ (15%), kế tiếp là Hồng Kông (10%), Đài Loan (8%)…
Kết quả này là một sự cố gắng phấn đấu hết mình của tập thể cán bộ công nhân viên công tác tại Bảo tàng, nhằm góp phần chào mừng Đại hội Đảng lần thứ IX thành công tốt đẹp.
Giao lưu đối thoại về ngành nghề thủ công truyền thống việt nam
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa – Thông tin vừa phối hợp với một số Bộ, ngành tổ chức buổi “Giao lưu – đối thoại về ngành nghề thủ công truyền thống Việt Nam”. Các nhà quản lý, các nhà khoa học và các nghệ nhân, thợ làm nghề thủ công đã bàn về chế độ ưu đãi tín dụng, đất đai, thuế, đào tạo nghề, mở rộng thị trường, tổ chức sản xuất, quản lý Nhà nước… Các ý kiến đề xuất và giải pháp thực tế trong buổi giao lưu sẽ được trình lên Thủ tướng Chính phủ để có các chính sách phù hợp.
Mai Khôi – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Hồ núi cốc

Hồ núi cốc – điểm du lịch của thiên niên kỷ mới, Mẫu Thị Yến – Trưởng phòng Du lịch Sở Thương mại – Du lịch Thái Nguyên. Hồ trên núi Cốc, một danh lam thắng cảnh do sự xếp đặt hài hòa giữa con người và tạo hóa để tạo ra một bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Vùng hồ Núi Cốc gồm 8 xã: Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ, Bình Thuận, Phác Xuân, Phúc Triều, Tân Cương và Phúc Tân, cách thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Tây , với tổng diện tích 16.000 ha, trong đó có 2.000 ha mặt nước hồ, ở đây có vô số đảo lớn nhỏ, núi đồi trùng điệp cùng thảo nguyên bát ngát. Nơi đây rất thích hợp với nghỉ dưỡng, thể thao, đua ngựa bơi thuyền, leo núi, nghiên cứu sinh thái lòng hồ du lịch văn hóa, tham quan. Núi Cốc trong thiên niên kỷ mới sẽ là một địa chỉ thu hút du khách quốc tế và các khách đô thị lớn từ phía Bắc về nghỉ cuối tuần, bởi vẻ hoang sơ đa dạng, yên tĩnh và không khí trong lành của nó.
Thời bao cấp, Thái Nguyên chỉ có 1 nhà nghỉ dành cho cán bộ nhân viên và nhà an dưỡng của quân khu I. Thời mở cửa do số khách đông số phòng thường xuyên bị cháy. Thái Nguyên đã đầu tư 4 tỷ đồng xây dựng mới khu huyền thoại cung, “Nàng Công chàng Ốc”, khách sạn nổi, khu vườn thú, làng dân tộc – với tổng số 400 phòng, trong đó có phòng họp, phòng hội thảo.
Nhờ vậy, năm 2000 doanh thu của điểm du lịch hồ Núi Cốc đạt 3,2 tỷ đồng đạt kỷ lục cao nhất từ trước đến nay, dẫn đầu ngành Du lịch Thái Nguyên về cách làm ăn năng động, có hiệu quả kinh tế cao. Để thu hút khách năm 2001 đã có dự án xây dựng khách sạn phương Nam, xây dựng các điểm vui chơi trên các đảo: đảo Cò, đảo Rắn, bán đảo vòi phun, đảo Kim Bảng, xúc tiến xây dựng trường đua ngựa để đưa ngành du lịch hồ Núi Cốc ngày càng phát triển.
Ngành hàng không và những cố gắng mới
Ngành hàng không và những cố gắng mới trong việc mở rộng tuyến bay, trong những năm 1997 – 1998, do sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, ngành hàng không cũng có nhiều bước gian nan. Những bắt đầu từ giữa năm 1999, tình hình sản xuất – kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam đã bắt đầu được phục hồi trở lại. Bằng nhiều biện pháp chiếm lĩnh thị trường để tăng thu, đồng thời nhờ kết quả chuyển giao thành công công nghệ khai thá, bảo dưỡng A320 từ giữa năm 1998 và một số biện pháp tiết kiệm, trong năm 1999 lợi nhuận trước thuế từ hoạt động vận tải toàn mạng đã đạt gần 500 tỷ đồng, các khó khăn về cán cân thanh toán gặp phải trong giai đoạn 1997 – 1998 đã được khắc phục hoàn toàn.
Năm 2000, thị trường vận tải Hàng không có những bước tiến vượt bậc. Ước tính đến hết tháng 12 năm 2000 Việt Nam Airlines đã thực hiện trên 26.900 chuyến bay, vận chuyển 2.859.000 hành khách, tăng gần 2% so với kế hoạch năm (tăng 11% so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 1.688.000 khách trong nước (tăng 6,8% so với cùng kỳ) và 1.170.000 hành khách quốc tế (tăng 16% so với cùng kỳ). Riêng trong quý 3, hệ số sử dụng ghế bình quân đạy 82%, tăng 4,17 điểm so với cùng kỳ năm 1999. Thị phần vận chuyển khách quốc tế đạt 38,35% tăng 1,2% so với cùng kỳ. Các xí nghiệp phục vụ thương mại mặt đất Nội Bài, Đà Nẵng Tân Sơn Nhất đã phục vụ cho 10.900 chuyến bay của các hãng Hàng không nước ngoài với 1.488 lượt khách.
Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh năm 2000 của Việt Nam Airlines là phục hồi và mở rộng mới 6 đường bay, trong đó hai đường bay Thành phố Hồ Chí Minh đi Xiêm Riệp và Quảng Châu đã thực hiện, 2 đường bay từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đi Seul, đường bay xuyên Đông Dương nối liền Hà Nội, Viêng Chăn, Phnom – pênh và Thành phố Hồ Chí Minh, đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Tô ky ô (hợp tác với các hãng hàng không Nhật Bản) đã thực hiện trong tháng 11. Ngoài ra Việt Nam Airlines còn tăng tần suất bay trên hầu hết các đường bay quốc tế đi Ô saka, Đài Bắc, Hồng K-ông, Băng Cốc, Kualalumpur… Với các chương trình phát triển như vậy, dự kiến năm 2000, Việt Nam Airlines sẽ vận chuyển được 2,8 triệu hành khách (tăng 9,7% so với năm 1999) và 4,4 tỷ hành khách/ km (tăng 15,6% so với năm 1999).
Về chất lượng phục vụ hành khách ở mặt đất và trên không, trong năm 2000 Việt Nam Airlines cũng đã đạt được một số mặt tiến bộ. Về tổng thể chất lượng dịch vụ, Việt Nam Airlines được xếp hạng thứ 35 trong số các hãng hàng không được xếp hạng trên thế giới (2 – 3 năm trước đây chỉ xếp thứ 44) và vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực (các hãng của Hàn Quốc, Trung Quốc): đặc biệt đội ngũ tiếp viên hàng không được xếp hạng thứ 4 thế giới đối với hạng doanh nhân và thứ 7 đối với hạng du lịch.
Để đáp ứng mục tiêu và phát triển định hướng cho thời gian tới, tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường phát triển trở lại, củng cố nâng cao chất lượng phục vụ hàng khách, lấy lại uy tín với khách hàng đồng thời tăng tính ổn định của lịch bay, cuối năm 2000 Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã thuê bổ sung 4 máy bay trong đó có 2 Boeing 767 và 2 ATR – 72. Số lượng máy bay A320 dự kiến cũng sẽ được bổ sung thêm trong năm 2000. Đồng thời công ty đã và đang phát triển khai thác nhiều chương trình nâng cấp chất lượng trong các mảng phục vụ mặt đất, phục vụ trên không, các dịch vụ khách hàng trong hoạt động bán…
Song song với các biện pháp trên, tổng công ty đã triển khai 3 chiến lược lớn là: điều chỉnh, hoàn thiện chiến lượt phát triển dài hạn đến cuối năm 2010, định hướng đến năm 2020; xây dựng kế hoạch phát triển năng lực vận tải đến năm 2005, định hướng đến năm 2010; dự thảo Nghị định mua sắm đặc thù áp dụng cho mua/ thuê máy bay, mua/ thuê/ dùng chung động cơ, vật tư phụ tùng.
Mẫu Thị Yến – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Nước anh vẫn mở cửa

Những thông tin về bệnh lở mồm long móng trong gia súc ở Vương quốc Anh khiến nhiều khách du lịch quốc tế tỏ ra ngần ngại khi dự định du lịch tới Anh quốc… Tuy nhiên, mới đây ông Tony Blair – Thủ tướng Anh quốc đã có thông điệp gửi tới các du khách quốc tế. Để cung cấp thông tin nhiều chiều cho bạn đọc, báo Du Lịch trích đăng một số ý chính ở thông điệp này để bạn đọc tham khảo.
Thứ nhất, đó là Chính phủ và nhân dân Anh đã và đang làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn và tiêu diệt bệnh dịch lở mồm long móng trong gia súc.
Tôi biết những điều tôi viết đây có thể không giống những gì bạn đã được xem, đọc và nghe trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những hình ảnh được chiếu trên vô tuyến với hàng loạt các gia súc bị giết chết và thiêu hủy tại nước Anh đã mang tới từng người Việt Nam và mọi người ở các nơi trên thế giới sự lo sợ bị lây nhiễm. Từ khi nạn dịch bắt đầu, nó luôn là vấn đề hàng đầu trong các chương trình nghị sự của Chính phủ Anh cũng như của cá nhân tôi. Theo các báo, đài, các phương tiện thông tin… đã đưa, đúng rôi chúng tôi đã tìm ra con số trên 1.000 trang trại bị nhiễm bệnh. Thế nhưng dường như họ đã quên nhắc tới con số 160.000 trang trại mà chúng tôi có trên toàn lãnh thổ Anh quốc. Và điều quan trọng là hơn một nửa số ca nhiễm bệnh là nằm tại một vùng.
Thứ hai là, dù căn dịch này đã gây ra nhiều thiệt hại cho người dân Anh, vẫn không khiến nước Anh phải đóng cửa đón khách du lịch và các đối tác liên doanh… Nạn dịch này không gây ra nguy hiểm gì cho sức khỏe con người và cuộc sống hàng ngày của tuyệt đại đa số người Anh. Cuộc sống của chúng tôi vẫn diễn ra một cách bình thường. Các điểm du lịch hấp dẫn của chúng tôi vẫn mở cửa đón khách tới tham quan.
Khách du lịch đến London, Edinburgh hay Cardyf sẽ không tài nào biết được về bệnh lở mồm long móng nếu như họ không chịu khó đọc báo hoặc nghe đài. Chúng tôi không thiếu thực phẩm, nước uống, những đồ dùng hoàn toàn đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày đối với người dân Anh cũng như khách đến du lịch Anh.
Một thống kê gần đây nhất cho thấy 80% trong số 15.000 điểm du lịch nổi tiếng nhất của nước Anh đã mở cửa lại và con số đó ngày càng tăng. 90% các chương trình du lịch và giải trí được tiến hành như đã định. Ngay cả tại những vùng có bệnh dịch, làng xóm và các điểm du lịch vẫn mở cửa đón khách. Du khách được đón chào nồng nhiệt khi đến thăm tháp London, lâu đài Edinburgh, vùng Lands End miền Tây Nam nước Anh hoặc vùng John O – Gróut Đông Bắc Scotland hay York – quê hương của Shakespeare. Các bạn có thể du thuyền trên hồ Loch Ness huyền thoại, chơi golf tại St Andrens hoặc thăm Canterburry, Cambridge hay Caernavon. Các bạn có thể lái xe đi khắp nơi và thả bộ trên những cánh đồng để ngắm cảnh… Tất nhiên có một số hạn chế, nhiều đường mòn tại các vùng nông thôn bị đóng cửa, mặc dù chúng dần dần được mở cửa trở lại. Lý do mà chúng bị đóng cửa là vì tuy không có hại gì cho người tiếp xúc với động vật nhiễm bệnh, nhưng để tránh nguy cơ gây lây lan. Một khi biện pháp đề phòng này được tuân thủ, tôi tin chắc rằng du khách sẽ có một chuyến thăm tuyệt vời tại các vùng nông thôn của chúng tôi.
Đã có rất nhiều du khách đến du lịch Anh quốc và chúng tôi hy vọng trong những tháng tới sẽ còn rất nhiều khách đến thăm hơn nữa.
Hạnh Nga – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Úng ngập vẫn đe dọa Hà Nội ?

Từ trước đến nay, nước thải của thành phố Hà Nội được thoát hoàn toàn theo dòng chảy tự nhiên chứ không hề có bàn tay con người. Hà Nội đã từng được mệnh danh là thủ đô của sông hồ bởi hệ thống hơn 100 ao, hồ, đầm, trong đó chỉ riêng 16 hồ nội thành đã có tổng diện tích gần 600 ha với sức chứa 15 triệu m3 nước. Phần lớn số nước thải của Hà Nội đều bị dồn tới các tuyến cống vốn đã quá lâu năm, có tuyến ngót ngét cả trăm tuổi, kích thước bé, độ dốc thủy lực nhỏ lại nhiều cặn bùn lắng đọng.Tính tính một cách rộng rãi, cả cống ngầm và cống ngang mới chỉ 120 km, đạt khoảng 55% tổng chiều dài đường phố. Có tới 16 – 17 km đường cống thuộc khu vực nội thành cũ không có cống ngầm thoát nước. Nhiều phố tuy có cống nhưng không đủ tiết diện và khả năng thoát cho lượng nước thải của Hà Nội lên đến 300.000 m3/ngày đêm. Hệ thống cống còn tạm dùng được đương nhiên phải đảm nhiệm việc thoát nước chung cho cả 3 loại nước: nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, rồi đổ ra 4 con sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét Lừ ra đập Thanh Liệt một cách “trời sinh ra thế”rồi tống thẳng ra sông Nhuệ. Cái nguyên lý thoát nước này chỉ tạm ổn khi trời “thương”, không có mưa bão. Nếu không thì Hà Nội ngập, Hà Nội lụt… Những điểm trắng trong mùa mưa ở Hà Nội cứ tăng dần theo thời gian: Phố Tôn Đức Thắng, hồ Thuyền Quang, phố Thanh Nhàn, phố Tây Sơn… Cũng lạ, người Hà Nội chịu được cảnh này có lẽ khá lâu rồi.
Ông Nguyễn Sỹ Bảo – Giám đốc Công ty Thoát nước thuộc sở Giao Thông công chính Hà Nội cho biết: Để giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập trong khu vưcj nội thành cần thiết phải hoàn chỉnh các hạng mục trong dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I, đó là nạo vét cải tạo toàn bộ hệ thống sông, một số hồ điều hoà quan trọng, lắp đặt thêm các tuyến cống ở các thành phố chưa đủ diện tích thoát nước, mở rộng các điểm co thắt dòng chảy trên mương.
Tính đến giữa tháng 5/2001, mới chỉ có thượng lưu sông Kim Ngưu được cải tạo xong theo chương trình của dự án và đang được đưa vào sử dụng còn lại 3 sông Tô Lịch, Lừ, Sét và hạ lưu sông Kim Ngưu mới bắt đầu được đưa vào cải tạo và dự kiến đến năm 2003 mới xong. Một số mương đang được thực hiện cống hoá như Phương Liên, Hào Nam, Nam Đồng…, còn hầu hết điều chưa được cải tạo đồng bộ. Hiện nay, dự án thoát nước vẫn đang tiếp tục triển khai gói thầu CP2 và cụm công trình đầu mối Yên Sở với công suất 45m3/s bắt đầu hoạt động.
Mặc khác, theo dự báo thì tình hình thời tiết năm 2001 sẽ diễn ra khá phức tạp. Đây thực sự là nỗi lo trong khi thực hiện dự án thoát nước, vì hệ thống thoát nước vừa phải vận hành vừa cải tạo và xây dựng mới, sẽ không đảm bảo công suất tối đa cho công tác thoát nước. Tình trạng lấn chiếm mương, sông vẫn xảy ra đây đó trên các cửa cống, sông, hồ làm cản trở đến dòng chảy. Đồng thời, việc giữ nước nuôi cá, lấy nước tưới cho nông nghiệp trên các hồ, sông làm cho nước đệm tại các nơi này dâng cao hạn chế việc tiêu thoát nước khi có mưa lớn trong thành phố. Một số tuyến công trong quá trình thi công dụng đất đá chặn dòng và sau khi thi công xong, đã không đưa lên khỏi lòng cống làm cho công tác duy trì gặp khó khăn. Quy chế quản lý hệ thống thoát nước theo 6032 hiệu quả còn thấp. Việc quản lý mực nước hồ, xử lý nước thải chưa phân cấp cụ thể nhiều khi chồng chéo dẫn đến tình trạng buôn lỏng quản lý, không có hiệu quả, gây khó khăn trong việc điều hòa và tiêu thoát nước khi có mưa…. Vì vậy, nếu mưa lớn trong mùa mưa năm nay, Hà Nội sẽ không tránh khỏi tình trạng có nhiều điểm úng ngập.
Để khắc phục tối đa việc úng ngập tại Hà Nội trong mùa mưa năm nay, Sở Giao thông Công chính Hà Nội, Ban quản lý dự án và Công ty Thoát nước Hà Nội đang tích cực phối hợp khẩn trương đẩy mạnh nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành dự án sớm hơn 19 tháng so với hiệp định đã ký. Trước mắt phải khảo sát lập hồ sơ giải tỏa nhanh 5 tuyến mương bị lấn chiếm là Thành Công, Văn Chỉ, Tân Lập, Đại Yên, Trắng Chẹm. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần chỉ đạo các quận, phường tạo điều kiện và phối hợp với các ngành trong việc ngăn chặn, giải tỏa cưỡng chế các vi phạm về trật tự xây dựng có ảnh hưởng đến công trình thoát nước… Công ty Thoát nước Hà Nội cũng cần thường xuyên khơi thông cống , rãnh, sông, mương, giải quyết các điểm úng ngập khi có mưa to.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Ở xứ sở mà phụ nữ là các bà hoàng

Những bà hoàng nơi rừng xanh: Ở một vùng núi hiểm trở thuộc khu tự trị Quanxi (Trung Quốc – xem bản đồ) có một dân tộc người Yao đỏ từng cư trú 1.400 năm từ đời nhà Tống (năm 618-907).
Muốn tới thăm các bản làng của người Yao đỏ du khách phải đi máy bay mất 2 giờ từ Thượng Hải tới Guilin (xem bản đồ). Từ sân bay, trên những con đường đèo cao, lũng sâu rất vất vả.
Người Yao đỏ có tên gọi như vậy vì phụ nữ rất ưa mặt áo bằng lụa nhuộm đỏ. Người Yao đỏ là 1 trong 55 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc. Họ có tới 2 triệu người sống ở vùng giáp ranh giữa ba tỉnh thuộc miền Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam). Đó là một vùng núi cao hiểm trở.
Một du khách nước ngoài đã từng tới thăm bản làng người Yao đỏ viết trên tạp chí “Le Figaro” như sau:
“Thật là một vùng hoang sơ, chúng tôi có cảm giác rối loạn tưởng như mình bị thời gian kéo lùi lại về thời Trung cổ. Không gian rừng núi vắng vẻ, âm u. Tuy nhiên, khi tới gần bản làng ngườiYao đỏ chúng tôi sững sờ khi gặp một vài phụ nữ đẹp như các bà hoàng đi làm đồng về. Họ mặc áo lụa nhuộm màu đỏ bằng lá cây rừng, còn váy có màu đen óng ánh nhuộm bằng lá chàm và máu bò. Khi nhuộm, họ lấy chày gỗ đập vải, sau đó lại nhúng vài dung dịch “chàm – máu bò” nhiều lần để vải không bị phai màu”.
Chế độ mẫu hệ của con người Yao đỏ:
Phụ nữ Yao đỏ có nước da trắng hồng, thân hình mạnh khỏe, cân đối, mái tóc dài. Vào mùa đông họ lại có thêm đôi môi đỏ và đôi má đào trời cho. Dân tộc Yao đỏ vẫn sống theo chế độ mẫu hệ. Đó là điều bí ẩn mà các nhà nhân chủng học còn chưa giải đáp được nguyên nhân hiện tượng này. Trong gia đình người Yao đỏ, phụ nữ nắm mọi quyền hành, điều khiển gia đình. Người phụ nữ Yao đỏ chủ động tìm chồng như ở chế độ phụ hệ thì người con trai chủ động đi tìm vợ.
Vào mùa xuân, người Yao đỏ tổ chức các lễ hội và trai gái các bản làng tụ tập để tìm hiểu nhau. Trong ngày hội, phụ nữ Yao thi kéo co, thi xem tóc ai dài, thi xem cô nào búi tóc nhanh và đẹp. Qua tìm hiểu, nếu ưng thuận, người con gái dẫn người yêu về nhà, sống cùng nhau như vợ chồng. Qua một thời gian chung sống nếu anh chồng vụng về không hợp với vợ thì người vợ có thể dẫn người con trai trả lại cho bố mẹ anh ta. Tuy nhiên, phong tục của người Yao đỏ không cho phép những cặp vợ chồng đã có con bỏ nhau.
Những cặp vợ chồng người Yao đỏ chỉ cưới nhau sau khi họ đã có một con. Đám cưới thường tổ chức linh đình, mời tới 200 – 300 người dự tiệc. Tiệc tổ chức ở tầng trệt dưới nhà sàn bên cạnh những chuồng trâu và chuồng lợn (ở miền núi, nhiều nơi làm chuồng gia súc như vậy để tránh thú dữ).
Người Yao đỏ sống định cư, họ thiết kế những ruộng bậc thang trên sườn núi rất công phu. Mùa màng thu hoạch đều đặn vì ở miền núi cao có tới 8 tháng mưa. Người Yao đỏ không có chữ viết riêng. Nền văn hóa của họ thông qua chuyện kể bằng miệng, từ đời này chuyền sang đời khác. Họ kể lại vì sao người Yao đỏ lại làm ruộng bậc thang như sau: “Ngày xưa, có một cô tiên trên trời tức giận con rùa của Ngọc Hoàng, bèn lấy chân giẫm làm vỡ nát con rùa. Chồng cô, nhặt những mảnh vỡ mai rùa ném xuống trần giang và những mảnh vỡ đó biến thành những ruộng bậc thang để con người cấy lúa.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001