Cần sự ổn định để phát triển

Đồng Mô (Ngải Sơn, thị xã Hà Tây) là vùng đất có tiềm năng du lịch lớn với cảnh sắc thiên nhiên, vị trí địa lý và thị trường du lịch thuận lợi tuy vậy, đã 11 năm hoạt động kinh doanh du lịch mà hầu như Công ty Du lịch Sơn Tây vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài những lý do chủ quan, ông Nguyễn Tuấn Dương – giám đốc Công ty đã nêu lên bức xúc cản trở sự phát triển của công ty.
Công ty Du lịch Sơn Tây là một đơn vị kinh doanh du lịch đầu tiên ở Đồng Mô từ năm 1989. năm 1993, từ một trung tâm cấp thị xã(Trung tâm Du lịch Sơn Tây), công ty được nâng lên thành doanh nghiệp nhà nước. cấp độ nâng lên song quy mô và diện tích khai thác du lịch ngày càng thu hẹp do sự “bùng nổ” về kinh doanh du lịch trên địa bàn.
Cũng cần nói sơ qua về hồ Đồng Mồ. Nó được tạo thành bởi con đập dài 10 km (đắp năm 1972) đón nước ở vùng núi Ba Vì, Lương Sơn đổ về. Hồ rộng 150 ha (gấp 4 lần Hồ Tây) với 21 đảo lớn nhỏ. Trước đây, cả khu vực thuộc nông trường Đồng Mô (150 ha mặt nước gần 1.000 ha đất bao quanh). Khi ra đời, Công ty Du lịch Sơn Tây hoạt động khai thác du lịch nhưng chưa được chính thức sử dụng đất. từ gần 1.000 ha đất quản lý chung với nông trường Đồng Mô, đến nay công ty vẫn còn “tạm thời quản lý” 103 ha đất. số còn lại phải chia 5 sẽ 7 với các đơn vị khai thác du lịch khác như Công ty cổ phần Du lịch Đồng Mô, công ty liên doanh thung lũng Vua và công trình văn hóa trọng điểm của quốc gia “làng văn hóa các dân tộc Việt Nam” (800 ha). Mỗi dự án du lịch mới ra đời là phần đất của công ty có nguy cơ co hẹp làm mất ổn định trong đầu tư xây dựng cơ bản và kinh doanh du lịch. Rút kinh nghiệm từ các bài học “Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam”, (công ty phải dở bỏ một số hạng mục đã xây dựng để nhường đất), công ty rất dè dặt khi huy động vốn đầu tư xây dựng, kinh doanh, dù nhận được lời mời vay vốn với các điều kiện ưu đãi.
Từ tháng 2/2000, tỉnh Hà Tây đã có những quy hoạch cụ thể cho phát triển du lịch, trong đó có việc đưa 103 ha đất cong lại ở Đồng Mô vào khai thác du lịch. Công ty đang chờ đợi quy chế cấp sổ đỏ và những cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất để có những kế hoạch đầu tư lâu dài. Nhưng cho đến nay, việc xúc tiến vẫn còn rất chậm nên thế để ổn định phát triển vẫn còn rất xa vời.
Bên cạnh đó, việc phát triển thiếu quy hoạch của các công ty du lịch trên cùng địa bàn cũng gây nên những khó khăn. Trong một dải dài ven hò, trụ sở của 3 – 4 ccông ty dựng gần nhau tạo sự cạnh tranh không hợp lý, gây ấn tượng xấu cho du khách. Nên chăng, có một Ban quản lý chung giữa các công ty để điều tiết hoạt động sao cho thu hút du khách đến Đồng Mô mạnh mẽ hơn.
Ở khu du lịch Sơn Tây hiện nay, dịch vụ du lịch – thương mại được đặt lên hàng đầu (du lịch thương mại chiếm tỷ trọng 30 – 40% trong cơ cấu kinh tế). Do vậy, sự ổn định trong hoạt động kinh doanh cho các đơn vị du lịch cũng chính là sự ổn định phát triển chung cho cả khu vực.
Chân dung thành viên công ty dịch vụ du lịch Bến Thành.
Công ty Dịch vụ du lịch Bến Thành (Bến Thành Tourist) được thành lập năm 1989 tại thành phố Hồ Chí Minh. Những lĩnh vực hoạt động chính của công ty gồm:
Kinh doanh Dịch vụ – Du lịch, với trụ sở chính và nhiều đầu mối thu hút khách tại TP. Hồ Chí Minh và các địa phương. Ngoài ra, công ty còn có các cơ sở dịch vụ lưu trú, ăn uống, giải trí và các dịch vụ về bán vé máy bay, hướng dẫn thủ tục xuất nhập cảnh.
Thương mại xuất nhập khẩu.
Đầu tư liên doanh với nước ngoài.
Hiện nay Bến Thành Tourist là thành viên của các hiệp hội du lịch quốc tế như: PATA, ASTA, JATA. Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh lữ hành, công ty có mối quan hệ với 50 hãng của 30 quốc gia, có đậu diện hoạt động tại các thị trường Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Úc. Vì vậy, công ty luôn có nguồn khách ổn định từ các thị trường lớn.
Cùng với sự đẩy mạnh hoạt động của các lữ hành quốc tế, công ty chú trọng khai tác nguồn khách phục vụ cho kinh doanh lữ hành nội địa với nhiều tuyến du lịch trong nước phong phú đa dạng.sau hơn chục năm hoạt động kinh doanh, công ty dịch vụ du lịch Bến Thành đã không ngừng phát triển, từng bước khẳng định vị trí của mình trong ngành du lịch Việt Nam và có uy tín với nhiều đối tác trên thế giới. nhiều năm liền Công ty đã được chính phủ , Tổng cục Du lịch tặng cờ thi đua, khen thưởng.
Địa chỉ liên hệ:
Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành
4 – 6 Hồ Huấn Nghiệp, Quận 1, TP. H ồ Chí Minh.
Tel: 84-8-8238962/ 8238963 Fax: 829269
Chi nhánh Hà Nội:
11 Tràng Thi, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: 84-4-9345315/ 9345313
Lê Nguyễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Tất cả nhằm phát huy giá trị của vịnh

Ban quản lý Vịnh Hạ Long có chức năng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Vịnh Hạ Long, mà trọng tâm là khu vực Di sản thế giới đã được UNESCO công nhận.
Chính thức hoạt động từ tháng 3/1996, định hướng và phương châm hoạt động được Ban quản lý Vịnh Hạ Long xác định: tập trung giải quyết những vấn đề nổi cộm, tạo chuyển biến thực sự về hiệu lực quản lý Nhà nước trên Vịnh Hạ Long; từng bước đề xuất những công việc có tính chiến lược, lâu dài; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương tạo ra sự kiểm soát toàn diện với Vịnh Hạ Long.
Thời điểm mới thành lập, Ban quản lý Vịnh Hạ Long chỉ có 12 biên chế với các phòng: hành chính – nghiệp vụ, đội kiểm tra, các bộ phận khác làm việc theo chế độ chuyên viên. Đến nay, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã được củng cố và phát triển tương đối toàn diện với 3 nhóm hoạt động: 1. Bộ phận quản lý (phòng nghiệp vụ, hành chính – tổng hợp, đội kiểm tra, kế toán – tài vụ); 2. Bộ phận hoạt động sự nghiệp (quản lý hang động, trung tâm thông tin hướng dẫn, trung tâm tìm kiếm cứu nạn); 3. Bộ phận kinh doanh (Trung tâm dịch vụ vịnh Hạ Long). Tổng số cán bộ công nhân viên của Ban quản lý Vịnh Hạ Long nay đã lên tới 200 người, trong đó chỉ có 14 biên chế chính thức. Với cơ cấu như trên, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã bước đầu đáp ứng nhiệm vụ được giao. Trong 5 năm qua, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã thường xuyên phối hợp với cơ quan có liên quan (Công an, Giao thông vận tải, Khoa học – Công nghệ – Môi trường…) tổ chức kiểm tra thường xuyên các hoạt động trên vịnh Hạ Long, lật lại trật tự trong quản lý tàu thuyền du lịch, ngăn chặn và xử lý nhiều vụ xâm hại đến giá trị vịnh Hạ Long.
Bên cạnh đó, các hoạt động tuyên truyền quảng bá về vịnh Hạ Long, những quy định trong quản lý bảo vệ di sản cũng thường xuyên được triển khai. Năm 2001 này, Ban quản lý Vịnh Hạ Long bắt đầu phối hợp với ngành Giáo dục – Đào tạo Quảng Ninh đưa chương trình giáo dục về Di sản vào học đường và mở website trên mạng Internet.
Cho đến nay, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã đề xuất và tổ chức thực hiện một số dự án đầu tư vào các hang động, đảo núi nhằm khai thác và phát triển các giá trị to lớn của Hạ Long: dự án tu bổ, tôn tạo động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, hang Đầu Gỗ, đảo Ti Tốp. Hiện tại, dự án xây dựng khu vui chơi giải trí và dịch vụ tại đảo Soi Sim, khu lưu trú nghỉ qua đêm tại Sửng Sốt, Hang Luồn… cũng đang được thực hiện.
Để có những căn cứ pháp lý vững chắc nhằm mục tiêu đầu tư, khai thác, phát triển bền vững các nguồn lực của Di sản, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã xây dựng Quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị vịnh Hạ Long đến năm 2020, Bản quy hoạch này đang được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ngày 29/11/2000, Ủy ban di sản thế giới đã chính thức quyết nghị công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (i) của Công ước quốc tế về di dản thế giới.
Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu hợp tác với các tổ chức quốc tế như: UNESCO, IUCN, Trung tâm Di sản thế giới… Bên cạnh đó, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã thiết lập quan hệ chặt chẽ, có hiệu quả với các tổ chức: Văn phòng UNDP tại Việt Nam, tổ chức JICA Nhật Bản và nhiều tổ chức bảo tồn di sản thế giới của nhiều nước trong khu vực. Từ các quan hệ trên, nhiều chương trình, dự án đã được thực hiện nhằm trợ giúp cho công tác bảo tồn vịnh Hạ Long, đưa vịnh Hạ Long từng bước hòa nhập vào hoạt động quốc tế trên lĩnh vực này.
5 năm qua, những gì mà Ban quản lý Vịnh Hạ Long làm được là rất đáng kể. Tuy vậy những thành công ấy mới chỉ là bước đầu. Những yêu cầu phía trước rất to lớn. Hiệu lực một số hoạt động quản lý Nhà nước của Ban quản lý Vịnh Hạ Long chưa cao, một mặt do còn thiếu những khung pháp lý cần thiết. Mặt khác, sự phối hợp giữa Ban quản lý Vịnh Hạ Long với các ngành và địa phương có liên quan chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên…
Trước tình hình như vậy, ông Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng ban Ban quản lý Vịnh Hạ Long nêu kiến nghị: một số Quy chế cần được sửa đổi bổ sung và ban hành mới (như Quy định tạm thời về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ cảnh quan môi trường, Quy chế về quản lý và sử dụng vịnh Hạ Long). Về lâu dài, cần có một Nghị định của Chính phủ nhằm thay thế hai văn bản trên để hiệu lực pháp lý được mở rộng và nâng cao cả về không gian, thời gian và phạm vi điều chỉnh. Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Bộ Văn hóa – Thông tin cho phép thành lập Thanh tra chuyên ngành về bảo vệ vịnh Hạ Long trên cơ sở Đội kiểm tra của Ban quản lý Vịnh Hạ Long hiện nay và trao cho đơn vị này thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường.
Thanh Thủy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Cù lao giêng – vùng du lịch sinh thái

Cù lao Giêng là một trong những điểm du lịch nằm ở xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới (tỉnh An Giang) hàng năm đã thu hút khá đông du khách từ khắp nơi đổ về hành hương, ngoạn cảnh (đa số là khách ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn). Cù lao Giêng có gì lạ?
Cù lao Giêng (hay Diên, Riêng, Den, Ven) mà người Khmer gọi “KOH-TENG” là vùng đất cù lao nằm ở giữa sông Tiền, có một bề dày lịch sử rất tự hào, nơi đã ghi lại dấu son lịch sử của phong trào cách mạng từ những năm 1930 với lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép xã Long Điền “A”.
Với cảnh quan thiên nhiên đầy sức quyến rũ của một vùng sông nước cá lội tung tăng cùng vô vàn chủng loại cây trái đặc sản của miền phù sa nước ngọt, Cù lao Giêng còn có những công trình văn hóa và mỹ thuật tiêu biểu như Chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội An (Chợ Mới), đã được Nhà nước công nhận. Hiện nay, bên trong còn thờ những bài vị của các anh hùng liệt sĩ cách mạng dưới hình thức tôn giáo để che mắt giặc trong thời chiến tranh. Cù lao Giêng còn là quê hương của người nữ anh hùng liệt sĩ Huỳnh Thị Hưởng – một “Võ Thị Sáu” kiên cường của An Giang. Trên đất này còn có di tích nhà thờ Cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ) được xây cất từ năm 1877, lớn nhất ở Việt Nam và có trước nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn chừng vài tháng. Tương truyền nơi đây xưa kia là một trong những nơi đóng binh của nhà Nguyễn. Đặc biệt trong khu này có danh lam Thành Hoa Tự, một ngôi chùa với lối kiến trúc sinh động, trên tường được chạm nổi những hoa văn mang nhiều hình ảnh đặc trưng mô phỏng cảnh yên bình thoát tục được khắc họa bởi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vùng Chợ Thủ. Thành Hoa Tự còn gọi là “chùa Đạo Nằm”, được xây dựng vào năm 1953 do sư tổ hòa thượng pháp danh Tịnh Nghiêm, quê ở làng Hòa An (Cao Lãnh) về đây trụ trì. Đến năm 1954 thì Ông viên tịch, hưởng thọ 51 tuổi. Hiện nay trong Bảo Tháp cạnh chùa có đặt thi hài Ông. Là một tu sĩ phật giáo không sáng tác kinh kệ riêng, cũng không đưa ra một phương thức tu tập mới, nhưng hành trang và cuộc đời của ông hầu như đã gắn với nhiều huyền thoại khá ly kỳ từ cung cách sinh hoạt đến dáng đi, giọng nói đều biểu hiện một cốt cách phi phàm!. Và đặc biệt hơn là… nằm!. Có lẽ ông là người chiếm kỷ lục về thời gian nằm ở nước ta. Trong suốt 9 năm khổ luyện ông đã nằm quay mặt vào vách theo tư thế của Đức Phật Thích Ca được gọi là “cửu niên diện bích”. Có phải chăng đây là điều “kỳ lạ” để cho mọi người từ các nơi đổ về hành hương chiêm bái!. Vào ngày giỗ (từ 15 đến 16 tháng 2 âm lịch và các ngày rằm lớn trong năm) có lúc lên tới 10 ngàn lượt người.
Cù lao Giêng đã từng là căn cứ địa của Xứ Ủy Nam Kỳ, nơi phát đi những tín hiệu và mệnh lệnh đấu trang giành quyền sống cho nhân dân ngay từ thời thuộc Pháp. Và cũng chính nơi đây đã sản sinh ra không ít những người con anh hùng trung dũng của quê hương An Giang. Phải chăng từ những di tích và di sản truyền thống quí báo tự ngàn xưa còn để lại cùng những cảnh quan nên thơ hữu tình ấy đã vẫy gọi khách du lịch hành hương từ mọi miền đổ về đây tham quan, thưởng ngoạn.
Hàng năm, vào những ngày lễ, tết và những ngày rằm có đến hàng trăm ngàn lượt người vượt nghìn trùng cây số, vượt sông để sang Cù Lao tham quan viếng cảnh. Trong đề án phát triển du lịch từ nay đến năm 2005, kế hoạch khôi phục và nâng cấp danh thắng Cù lao Giêng ngang tầm với những trọng điểm du lịch khác của tỉnh sẽ được tiến hành đồng bộ, biến nơi đây trở thành điểm hẹn đầy lý thú và hấp dẫn trong tương lai.
Trần Văn Thọ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Vị chát búp chè

Vùng chè Tuyên Quang là vùng chè lớn nhất cả nước. Ở nhiều nơi mỗi năm chỉ sản xuất ra một vài tấn chè đã là điều mơ ước. Trong khi đó ở Tuyên Quang mỗi năm đã xuất ra thị trường trong nước và ngoài nước như Hồng K – ông, Anh tới hàng ngàn tấn, được khách hàng ưa chuộng. Những nương chè nơi đây đã một thời đi vào tâm trí đi vào thi ca biết bao người. Những địa danh nổi tiếng: Lũng Pin, Bó Tuốt, Khan Méet ; Sinh Long , Bạt Tiên với những chè Tuyết, chè Shan, Đại Bạch Trà.
Để rừng chè tồn tại, người trồng chè cũng lắm truant chuyên. Thu nhập của hàng chục ngàn người lao động ở vùng chè Tuyên Quang còn rất khiêm nhường. Theo số liệu chưa đầy đủ của Xỉ nghiệp Nông Công nghiệp chè Tuyên Quang thì mức thu của người lao động chỉ đạt bình quân 170 ngàn đồng một tháng. Trong khi đó sản lượng chè hàng năm trên 5.000 tấn búp, năng suất bình quân là 42.5 tạ/ ha. Trên 4 ngàn ha tổng diện tích cây chè của xí nghiệp vẫn luôn cần tới những bàn tay chăm sóc hái lượm của người trồng chè. Vậy thì, con số 170 ngàn đồng kia so với công sức của người lao động bỏ ra tất là điều đáng phải lưu tâm.
Thị trường của chè và các nhà máy chế biến, là người tiêu dùng trong và ngoài nước. Giá một kg búp tươi sau nhiều biến động của các mặt hàng khác thì vẫn chỉ luôn ở mức 1.500 đồng. Trong điều kiện như vậy việc cải thiện đời sống người lao động xem ra thực khó. Cùng với cái khó của người trồng chè, thì công nhân trong các nhà máy, phân xưởng chế biến chè cũng chẳng hơn gì. Chặng đường của mỗi cân chè thành phẩm vượt đại dương tới Anh Quốc, Hồng K- ông cũng chỉ thu về 1,2 USD. Thử chia 1,2 USD cho tất cả các khâu: thu mua búp, chế biến, cước phí vận chuyển, thuế xuất nhập khẩu và nhiều công đoạn khác nữa thì việc đời sống công nhân còn khó khăn là điều dể hiểu.
Để khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng chè, đòi hỏi phải cải cách các thủ tục để có nhiều đối tác, mở rộng liên kết, liên doanh, tiếp thị nhanh đối với các doanh nghiệp. Cần đổi mới cơ chế, khuyến khích phát triển mô hình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là mô hình tư doanh, trách nhiệm hữu hạn thì mới có thể tiếp nhận tiếp thị nhanh và sản xuất mới mang lại hiệu quả.
Bên cạnh đó cần mở rộng thị trường truyền thống như Nga, Tây Á, I – Rắc, A – Rập… đồng thời cần quan tâm đúng mức tới nhu cầu tiêu thụ nội địa. Muốn có được chữ tín trên thị trường chè đòi hỏi phải có búp chè tốt, tăng năng suất lao động công nghiệp, đổi mới mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Chỉ có như vậy chè Tuyên Quang mới khẳng định được chỗ đứng của mình. Và có như vậy mới nâng cao được đời sống người loa động, họ mới yên tâm vào công việc trồng chè.
Nhận thức được vấn đề này, mấy năm trở lịa đây Xí nghiệp Nông Công nghiệp chè Tuyên Quang đã tiến hành thực hiện chương trình 01 về tiến bộ kỹ thuật chế biến thành phần chè. Chương trình này gồm 2 đề tài cải tiến các khâu vỏ và lên men để nâng cao chất lượng, tỷ lệ 3 mặt hàng chè đen xuất khẩu của nhà máy. Xí nghiệp đã lắp đặt thê, 3 cối vò nên tăng được thời gian vò, lắp thêm 2 máy đẩy không khí từ phòng lên men sang phòng vò; cải tiến lưới sàng tơi; lắp thêm hai máy phun ẩm, quạt đẩy vò theo quy trình 321. Kết quả đạt được độ dập tế bào gần 30%; cánh chè xoăn, chặt gọn, đẹp, đen bóng. Tuy nhiên xí nghiệp vẫn đang còn đối mặt với những tồn tại kỹ thuật nhất là khâu sấy, thiết bị kỹ thuật và quy trình sản xuất chè cũng như nâng cao trình độ tay nghề của công nhân.
Qua thực tế vấn đề nổi cộm ở Tuyên Quang là: Việc tiêu thụ sản phẩm chè trong nhiều năm nay đặc biệt là chè xanh, chè vàng rất bấp bên, giá lại thấp, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa nơi mà điều kiện giao thông vô cùng khó khăn. Diện tích trồng chè nhiều nhưng các doanh nghiệp làm chè xuất khẩu nhiều khi phải khoanh tay bất lực nhìn nguyên vật liệu và sản phẩm của nông dân làm ra trôi nổi tự do trên thị trường vắng bóng người thu gom, quản lý. Điều này đã có tác động tiêu cực là một trong những yếu tố gây thất thu ngân sách địa phương.
Cây chè là nguồn sống chủ yếu của đồng bào ở một số vùng địa phương Tuyên Quang. Việc thả nổi cây chè và sản phẩm của nó khiến người dân phải xoay sở tự chế biến bằng phương pháp thủ công.
Vùng chè Tuyên Quang không chỉ là vùng chè đặc sản nổi tiếng mà nơi đây là địa danh du lịch nổi tiếng với Suối Giàng cùng hàng trăm cây chè cổ thụ gốc to 3,4 người ôm. Bên những gốc chè Suối Giàng đã có nhiều bức hình kỷ niệm của các nhà lãnh đạo Nhà nước và không ít du khách gần xa. Mong sao cây chè rồi đây sẽ trở về với đúng vị trí của nó trong đời sống xã hội, trong đà đi lên của tỉnh miền núi chiến khu này.
Nguyễn Ngọc Dũng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Lễ hội xuân này ở Thái Nguyên

Tôi là người thích vãn cảnh đền, chùa nên thấu hiểu được nỗi khổ ở các lễ hội những mùa xuân trước. Người chen chúc, xô đẩy nhau vào các bàn thờ để thắp hương, mất hết cả sự thành kính. Mỗi người cầm hàng nắm hương cháy đỏ như thế nghĩ rằng, càng thấp nhiều hương thì càng lắm lộc (!), bất cần biết tàn hương đang cháy có thể rơi vào tóc, vào áo người kế bên. Chính vì thế khói hương nghi ngút cứ như người ta… hun chuột ngoài đông vậy. Chẳng ai còn mở mắt được để xem bạn thờ ở hướng nào, nên đành rút lui ra ngoài để thở, hoặc là nhắm mắt vái bừa… Chuyện hái lộc cũng là một vấn đề. Trên đường đến hội đã gặp không ít người về, mang theo những cây, vâng không phải là cành lộc to tướng phía sau xe máy hoặc ô tô. Do vậy, khi tan hội đền chùa cứ như sau bão. Các mầm cây bị bẻ sạch, những lá nào khả dĩ được coi là lộc đều bị hái đi. Tôi cất công lên tận đỉnh núi Đuổm xem “thực địa” thì thấy không một cành cây nào còn ngọn, lá nữa. Vậy mà mấy cô cậu thanh niên vẫn tiếp tục rủ nhau sang ngọn núi bên cạnh trên những mỏm đá cheo leo đầy nguy hiểm… bẻ lộc!
Xuân này chuyện cũ xem chừng khác trước. Người đến hội Đuồm không đông bằng năm trước, phần trùng ngày với hội Gióng (Sóc Sơn), phần thiếu trò vui. Ban tổ chức đã tổ chức việc trồng cây cùng với cấm bẻ cành, hái lộc trên núi. Song, nhưng chưa phải đã chấm dứt hẳn. Ở Hội Chùa Hang việc hái lộc không còn do núi đá hiếm cây. Hơn nữa cũng do ban tổ chức có biện pháp ngăn chặn tích cực. Bù lại, các hàng bán cây cảnh, phong lan, chim ghép từ cây cu li… được bày bán rất nhiều bên cạnh các dãy bàn đồ lưu niệm.
Ở các hội đền, chùa năm nay, tỉnh văn hóa, trong phần lễ được chú ý hơn với các lễ dâng hương lành mạnh. Không có đồng cốt, hầu bóng. Các hoạt động mê tín dị đoan đã hạn chế đáng kể. Hầu hết các lễ hội không có bán thẻ, quẻ, bói toán. Người ta dự lễ được thưởng thức các điệu múa hat do các hội quy trình diễn trong khi tế lễ. Như mọi năm . Chùa Hang giữ được nét riêng: Ngay từ giờ khai hội, các đoàn đại biểu mang vòng hoa viếng các anh hung liệt sĩ trước khi vào chùa dự lễ dâng hương.
Do tô chức chu đáo nên trong hang không còn cảnh khói hương mù mịt như trước nữa.
Trong phần hội, các nơi đã có nhiều hoạt động phong phú. Chùa Hang và chùa Phù Liễn đều được tổ chức chọi gà, chơi cờ tướng, riêng Phù Liễn còn có hội bình thơ là nét riêng, mang tính văn hóa cao. Chùa Hang thêm trò bịt mắt bắt dê (thật), thi vật , hát quan họ… hấp dẫn du khách có lẽ vì vậy mà người về traye hội Chùa Hang đông hơn mọi năm.
Có thể kể nhiều về các lễ hội khi mùa xuân đến, nhưng đêìu ghi nhận qua các hội đền, chùa năm nay là nét văn hóa, sự hướng thương của khách du xuân. Tuy nhiên để các lễ hội ngày càng lành mạnh thiết thực hơ, thiết nghĩ công tác tuyên truyền về ý nghĩa mục đích của mỗi lễ hội cần được làm tốt hơn, sâu rộng hơn. Việc tổ chức các trò vui đa dạng thực sự giữ vị trí quan trọng trong các lễ hội. Bởi đối tượng tham gia lễ hội hè phần đông là thanh niên và họ đến lễ hội với nhu cầu chính đáng là vui chơi giải trí, gặp gỡ, giao lưu. Những lễ hội được tổ chức với các sinh hoạt văn hóa hấp dẫn chắc chắn sẽ bổ ích cho mọi tầng lớp và là lý do để thu hút khách tham quan.
Có một điều xin được nói thêm: Trước đây đi hội Gióng thấy người ăn xin nhiều vô kể, tất nhiên cũng có tìh trạng làm phiền người đi hội. Nhưng gần đây tình trạng đó không còn. Song, những lễ hội ở Thái Nguyên thì ngược lại người ăn xin từ nhiều nơi đỗ về có phần tăng lên. Làm việc thiện tùy tâm là truyền thống tốt đẹo của chúng ta, nhưng đáng tiếc, còn có hiện tượng người ăn xin quấy nhiễu du khách, thậm chí gần như buộc khách phải cho tiền. Ai nấy đều hiểu rằng lễ hội là nơi đón khách thập phương, trong đó không ít khách nước ngoài. Vì thế, làm sao để khi rời hội khách còn lưu những ấn tượng đậm về một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt, chứ không phải là những cảm giác không vui trước những điều chưa thật – cho dù điều đó không mnag tính đại diện. Để có những lễ hội thật vui, thật lành mạnh, đòi hỏi sự cố gắng mọi mặt của Ban tổ chức và chính quyền nơi đó rất nhiều. Hy vọng mùa xuân tới, chúng ta lại được dự những lễ hội mà ấn tượng tốt lành sẽ mãi theo mãi suốt cả năm.
Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Tôi là nhà vườn nhưng yêu du lịch

Trong thập niên 90, ngành du lịch nước ta đá có bước phát triển khá rõ nét hơn bao giờ. Đây được xem là tín hiệu xanh, tạo tiền đề thúc đẩy cho ngành du lịch khai thác, phát huy “tiềm năng lợi thế của mình”. Nhiều người, nhiều đoàn thể và mọi thành phần kinh tế khai thác đã “gia nhập” việc khai thác kinh tế du lịch với con số chưa từng có. Phải chăng ngành “công nghiệp không khói” dễ kiếm ăn hay còn là nguyên nhân nào khác?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đã gặp anh Bảy Sang, nhà nông nghiệp trẻ gốc nông dân nòi, tham gia công tác khai thác du lịch , làm ăn khá thành công và có nhiều triển vọng. Anh là chủ nhà vườn du lịch Mỹ Khánh – Cần Thơ.
Phóng viên: Chào anh Bảy, được biết Mỹ Khánh là một trong những điểm du lịch vườn trái cây Cần Thôn riêng, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung đang là điểm hẹn của khách du lịch trong và ngoài nước khi họ có dịp đến thăm quan vùng này. Vậy, anh có thể giới thiệu vài nét về quá trình hình thành và cách làm của Mỹ Khánh.
Anh Bảy Sang: Tôi chẳng biết bắt đầu từ đầu cho đúng nghĩa! Bởi lẽ tổng số khách đến tham quan hàng năm ở Mỹ Khánh hoàn toàn ngoài dự tính của tôi. Theo ước tính số khách năm 96 chỉ khoảng vài ngàn người nhưng đến nay hàng năm chúng tôi đã tiếp nhận từ 4 chục đến 5 chục ngàn khách, trong đó có hơn 14 ngàn khách quốc tế. điều không ngờ vừa, Vườn du lịch Mỹ Khánh chỉ khoảng hơn 3 mẫu đất 93 ha diện tích) so với các điểm du lịch vườn khác chỉ là em út.
Phóng viên: Còn về cách làm, anh tâm đắc điều gì?
Anh Bảy Sang: Tôi xuất thân từ nông dân nòi chính hiệu. Bởi vậy, nếu được phép nói theo suy nghĩ của bản thân thì điều tâm dắc nhất của tôi là lòng say mê du lịch, trong đó có cả tình yêu quê hương vốn nổi tiếng về vườn cây trái ngọt ngào… Tôi nghĩ, giữ gìn thôi chưa đủ, mà phải biết phát huy hết những tiềm năng của nó, phải biết quảng bá tới khách năm châu trên mọi hình thức… và tôi đã chọn ngành du lịch… Mặt khác, về lĩnh vực chuyên môn, tôi rất tỉa từ kinh nghiệm qua các chuyến tham quan tour du lịch Việt Nam và nước ngoài – tiếp thu thông tin du lịch qua báo – đài, thường xuyên theo dõi học hỏi những chương trình qua sách vở có liên quan đến du lịch và từ đó tôi đi vào thực tế. Tuy nhiên, bước khởi đầu không sao tránh khỏi những khó khăn ách tắc, nhưng tôi biết mình làm một việc hoàn toàn đúng đắn và ý nghĩa. Tôi hoàn toàn an tâm và tin tưởng bởi việc làm trên chính là tuân thủ theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và phát triển kinh tế du lịch…
Hiện nay, do vốn tự có hạn hẹp, nên ngoài khu vườn trái cây, cầu cảnh, ao hồ và các dịch vụ ăn ở vui chơi như: Nhà nghỉ – Nhà hàng – Ca nhạc tài tử – Karaoke – câu lạc bộ bida – Cầu long, hồ bơi, du thuyền, chúng tooi mới chỉ dám nghĩ đến việc tiếp tục mở rộng khu vườn thú động vật quý hiếm và sân teniss… Để đạt đựơc những kết quả như hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân, và an hem nhân viên, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, các ban, ngành hữu quan cùng với các đơn vị trong ngành du lịch. Với sự quan tâm đó, hy vọng Mỹ Khánh sẽ tiếp tục phát triển.
Italia: Mở cửa Tháp cổ Viminal
Trong 2 ngày 10 và 11/3/2001, lần đầu tiên trong lịch sử, Bộ nội vụ Italia sẽ mở cửa cho du khách trong và ngoài nước tham quan Tháp Viminal, một trong 7 tháp cổ cao ở thành phố Roma, nằm trong khuôn viên của Bộ nội vụ – một nơi được bảo mật tuyệt đối.
Tháp cổ Viminal được Manfredo Manfredi – một trong những kiến trúc sư nổi tiếng của thời Phục hưng, thiết kế theo kiểu Baroque. Từ năm 1910, tháp này bị đóng cửa đối với dân chúng, do trở thành tổ hợp nhà làm việc của Thủ tướng và nội khác, đến năm 1961, khi thủ tướng và nội khác chuyển tới lâu đài Chigi Palace nơi đây thành trụ sở Bộ Nội vụ.
Tháp Vimanal gồm 5 tầng với hàng trăm phòng, nhiều phòng khách, gallery nghệ thuật, sân chơi…
Liu Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Làm gì để bảo vệ Di sản văn hóa

Trong một thời gian dài, nhiều nước trên thế giới phải đối mặt với nạn cướp phá, buôn bán trái phép các di sản văn hóa động sản (DSVHĐS) – là những di tích lịch sử, khảo cổ, kiến trúc – nghệ thuật… của ông cha, tổ tiên để lại. Tình hình này vẫn diễn ra nghiêm trọng ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển. Việc chiếm đoạt trái phép không những hủy hoại DSVH của một dân tộc mà kéo theo đó sự mất mát không thể bù đắp về những thông tin lịch sử. Vậy cần làm gì để bảo vệ di sản văn hóa động sản?
Những con số biết nói.
Theo các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới thì ở những đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm là những khu dễ bị nạn cướp phá hoàn thành nhất, bởi tại đây tập trung một số lượng khá lớn các di sản văn hóa động sản. 1/3 lãnh thổ của thổ dân da đỏ Mỹ phải mất mát đáng kể nạn cướp bóc tại các khu vực chôn cất những người Mỹ bản xứ. Rất nhiều tượng đài của khu di tích Ăngko và Banteay Chanan hay các tượng đài, các tác phẩm điêu khắc minh họa thành tựu kinh tế xã hội và nghệ thuật cao của nền văn hóa Khơme đng bị đưa ra chợ lậu ngoại quốc. Nước Pháp hàng năm mất 6.000 cổ vật, Trung Quốc mỗi năm thu lại 8.000 đến 10.000 cổ vật bị thất thoát. Còn Thổ Nhĩ Kì có hơn 130 cổ vật bị đánh cắp có niên đại từ thế kỷ thứ 19 TCN. Các cổ vật của Assyrian, Hittie, Roma, Hylạp bị cướp tại các di chỉ khảo cổ; Peerru mất rất nhiều đồ gia dụng làm bằng gốm sơn, vải và đồ long chim thuộc thời kỳ trung đại. Việt Nam hiện gần có 2.500 di tích lịch sử văn hóa và hàng triệu hiện vật quý trong các bảo tàng, một phần trong số thuộc sở hữu của cá nhân hay bị chiếm đoạt trái phép.
Đâu là nguyên nhân.
Bà Lyndel Prott – Giám đốc Đơn vị tiêu chuẩn Quốc tế, Ban DSVH UNESCO, lý giải điều này là do các cổ vật dân tộc học và khảo cổ học có một giá trị vượt ngoài giá bán trên thị trường. Trên thực tế, nhiều người tin rằng, các cổ vật được lưu giữ trong nhưng ngôi nhà cổ, tòa án, bảo tàng có thể đổi được rất nhiều tiền. Họ bất chấp mạo hiểm tính mạng và tự do để làm bất cứ việc gì. Mặt khác, cổ vật “sống chung” với đồ giả cổ khiến người có trách nhiệm ở các cửa khẩu biên giới cũng khó phân biệt vàng, thay để có biện pháp bảo vệ.
Chuyên gia Heshuzhong – Vụ trưởng Vụ Văn hóa Nhà nước Trung ương Trung Quốc cho biết: chính từ giá trị của các DSVH động sản, mặc dù đất nước ông đã tiến hành nhiều biện pháp để ngăn chặn những làn sóng mua bán trái phép những thứ hàng hóa vốn rất sẵn ở nước này vẫn không ngừng tăng. Còn theo tiến sĩ Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Bảo tồn – Bảo tàng Việt Nam thì, tựu trung là sự sôi động của thị trường đồ cổ trên thế giới đã ảnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến “thị trường ngầm” ở mỗi quốc gia, trong khi các cơ quan chức năng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ cổ vật, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
Làm gì để bảo vệ di sản văn hóa động sản
Bảo vệ di sản văn hóa nói chung và DSVHĐS nói riêng là một nhiệm vụ rất khó khăn và phức tạp, ngoài nỗ lực của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế. Tại cuộc hội thảo “Công cụ của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa động sản” vừa diễn ra tại Việt Nam, bà Gina Barte, Hiệp hội Bảo tàng Đông Nam Á, cho rằng: đội ngũ người bảo tồn di sản cần được đào tạo có chuyên môn cao và có lương tâm nghề nghiệp. Các công tác kiểm kê phải được cập nhật thường xuyên. Sự ngăn chặn nạn buôn lậu DSVH là một trong nhiều lợi ích mà các nước sẽ thu được khi gia nhập ICOM cũng như tham gia vào dự án OBECT ID (Việt Nam đã làm thí điểm ở Đà Nẵng). OBECT ID là một trong những tiêu chuẩn quốc tế nhằm ghi chép và lưu giữ thông tin tài liệu các cổ vật. Giáo sư – Tiến sĩ Lưu Trần Tiêu, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, khẳng định: “Nếu chúng ta không thể thiết lập được cơ sở dữ liệu thông tin về DSVH thì việc phối hợp quản lý giữa các Bộ, các ngành chức năng, giữa Trung ương và địa phương cũng như hợp tác quốc tế để đảm bảo DSVH sẽ trở nên kém hiệu quả. Và để bảo vệ DSVH thì nhất thiết phải tăng cường nhận thức, trình độ hiểu biết đầy đủ giá trị cổ vật đối với dân chúng như UNESCO đã chỉ ra.
Với riêng Việt Nam, là một trong số nhiều nước chưa tham gia công ước nào của UNESCO về lĩnh vực này, các đại biểu chi rằng, vì lợi ích quốc gia, vì mục tiêu bảo vệ DSVH nhân loại, Việt Nam cần thiết trở thành thành viên của các công ước quốc tế về bảo vệ DSVH và tổ chức ICOM . Đồng thời, việc sớm ban hành Luật DSVH trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các Đại biểu Quốc hội trong kỳ hợp thứ 8, Quốc hội khóa X sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ và gìn giữ DSVH ở Việt Nam.
Hồng Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Mai Sao Phong động – cần có sự kết hợp giữa khai thác và bảo tồn

Lạng Sơn lâu nay vốn nổi tiếng là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh với “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”. Một vài năm gần đây, Mai Sao Phong động thuộc huyện Chi Lăng cũng trở thành điểm dừng chân của khách du lịch trong mỗi chuyến tham quan Lạng Sơn.
Mai Sao Phong động – Sức cuốn hút lạ kỳ
Cách thị trấn Đồng Mỏ 6km Mai Sao Phong động (hay còn gọi là hang Gió) nằm trên địa phận xã Mai Sao, là nơi có đông đồng bào dân tộc Tày, Nùng sinh sống. Từ chân núi lên đến cửa động, du khách sẽ vượt qua 393 bậc thang và dừng chân ở sườn núi với độ cao gần 100 mét so với mặt đất. Trước mắt bạn hiện ra khung cảnh núi non trùng điệp, mây giăng giăng ôm ấp núi thật hùng vĩ, tươi đẹp. Phía ngoài cửa động, từng chùm hoa phong lan đủ sắc màu tỏa hương thơm ngào ngạt, là lời chào nồng nhiệt nhất dành cho du khách. Theo con đường bên trái, chúng ta cùng nhau khám phá những điều kỳ diệu của thiên nhiên ở tầng một của Phong động. Đi suốt chiều dài gần 500 mét, bạn sẽ thấy không khí mát rượi và mỗi thạch nhũ với đủ màu sắc xanh, tím, hồng nhạt, vàng, trắng, đem đến cho bạn một sự liên tưởng lý thú. Sau khi tham quan tầng một, du khách quay ra cửa động rồi tiếp tục đi lên tầng hai, tầng ba của động để ngắm nhìn thạch nhũ lung linh sắc màu, trông quyến rũ như những bức họa do các họa sĩ tài hoa tạo ra. Đến với Phong động, du khách đặc biệt thích thú khu nhũ đá lấp lánh như kim cương có hình ruộng bậc thang với tên gọi “ruộng Tiên”. Vượt qua một đoạn vách đá cheo leo, bạn đã lên đến tầng cao nhất của Mai Sao Phong động, nơi có giếng tiên quanh năm tràn đầy nước mát.
Mai Sao Phong động sẽ thực sự thu hút khách du lịch?
Được phát hiện từ cuối năm 1999, khu thắng cảnh này được Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn giao cho Ủy ban nhân dân xã Mai Sao quản lý từ tháng 10/1999 đến tháng 4/2000. Từ tháng 4/2000 đến nay, Mai Sao Phong động do Ban quản lý thuộc Phòng Văn hóa huyện Chi Lăng quản lý. Mặc dù mới được phát hiện nhưng nhờ vẻ đẹp thực có, có lúc khu thắng cảnh Mai Sao Phong động đã đón tới gần 2000 lượt khách tham, quan trong một ngày. Nhưng hiện tại, lượng du khách đến thăm quan nơi đây đang rất vắng. Nguyên nhân có thể kể đến là con đường từ Ủy ban nhân dân xã Mai Sao vào động khoảng 4km chưa được đầu tư nâng cấp, cầu Vòng Kheo thi công từ tháng 10/2000 đến nay chưa xong nên xe du lịch không thể vào được và du khách phải đi bộ khoảng 3km mới vào đến Phong động. Nhưng có lẽ nguyên nhân chính làm lượng khách giảm là ý thức không tốt của một số du khách đã từng đến đây tham quan. Họ viết, vẽ, chạm khắc lên rất nhiều thạch nhũ của động với mục đích “lưu danh cho đời sau” được biết, hoặc ít ra cũng là để có “kỷ niệm” về một chuyến đi thú vị. Thậm chí, chị Thảo ở nhà may Hương Thảo, thị xã Lạng Sơn còn cho biết, chị khắc tên, địa chỉ nhà may của mình lên nhũ đá để quảng cáo cho hiệu may của mình? Và không ít nhũ đá ở thấp, ngang tầm tay của du khách đã bị đập vỡ ngổn ngang dưới nền. Anh Vi Văn Chân, cán bộ Ban quản lý Mai Sao Phong động cho biết: “Chúng tôi đã có nhiều cố gắng để bảo vệ cảnh quan nơi đây, thường xuyên cử người trực trên động, nhắc nhở du khách không phá hoại cảnh quan, rồi có khi mang cả nước nên để cọ những nhũ đá bị bôi bẩn Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cũng rất quan tâm đầu tư phát triển khu thắng cảnh Mai Sao Phong động như lắp đặt hệ thống đèn màu trang trí, lập dự án phát triển cơ sở hạ tầng… Nhưng những lúc khách đông thì không đủ người để trông nom, theo dõi”. Mong sao trong thời gian tới, Mai Sao Phong động sẽ được quan tâm hơn để có thể khai thác tốt tiềm năng sẵn có cũng như được bảo tồn, gìn giữ để khu thắng cảnh này lại tuyệt đẹp trong mắt tất cả du khách tới đây.
Thủy Tiên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Anh Ghulam Kibria

(32 tuổi, người Bangladet)
Tại sao anh lại chọn Hà Nội làm nơi dừng chân?
Không giống như Ai Cập kỳ vĩ, như rừng Amazon nguyên sinh bí hiểm, như lục địa đen nóng bỏng hoang sơ, Hà Nội – Việt Nam phảng phất một vẻ đẹp dịu dàng và duyên dáng. Hà Nội có một hương vị rất đặc biệt, khiến cho người ta cảm thấy thư giãn. Cái cảm giác mong manh, dịu ngọt quen quen, lạ lạ ấy có một sức hấp dẫn riêng thật khó tả.
Có phải vì Hà Nội đẹp, con gái Hà Nội dễ thương, người Hà Nội tận tình, chu đáo?
Thật ra, không phải dịch vụ nào ở Hà Nội cũng đã “chuyên nghiệp”. Nhưng bù lại, lòng mến khách và nhiệt tình của các bạn đã mang lại cho tôi cảm giác thú vị, gần gũi này.
Sống và làm việc ở Việt Nam đã bốn năm, anh không cảm thấy nhớ nhà sao?
Tôi đã khá quen với cơm Việt Nam, thích nhìn phụ nữ Việt Nam mặc áo dài. Tôi mua tặng mẹ và em gái những bộ áo dài Việt Nam. Một số áo dài, một nụ cười duyên dáng là bản sắc riêng của con gái Việt Nam đã để lại ấn tượng khó phai trong tôi.
Chùa thầy có hang cắc cớ
Chùa thầy cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây, là nơi hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Hội chùa Thầy hàng năm tổ chức từ mồng 5 đến mồng 7 tháng ba âm lịch. Ngày chính hội là mồng 7:
“Nhớ ngày mồng 7 tháng 3
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy”
Chùa Thầy có từ lâu đời. Tục truyền rằng, xưa kia thiền su tử Đạo Hạnh (người làng Láng – Hà Nội), sau khi học pháp thuật từ Ấn Độ trở về, dựng gậy tích, ngày đêm tụ tập ở núi Sài (Sài Sơn). Sau đó, đi khắp 4 phương tham thiên vấn đạo. Lúc ngộ được tâm ấn, Thiền sư trở lại núi Sài giảng đạo, dạy học, làm thuốc giúp dân. Thiền sư còn tổ chức những trò vui như: đành vật, đá cầu, múa rối nước … Nhân dân cảm phục, kính mến gọi Thiền su bằng “Thầy”. Vì thế, mới có cái tên: Chùa Thầy, núi Thầy, làng Thầy …
Quần thể núi Sài gồm 16 quả núi lớn nhỏ “(thập lục sơn)”, núi Thầy được coi là núi mẹ. Các núi có tên như: Long Đẩu, Hoa Pháp, Sơn Tượng … như một ổ rồng vờn, chầu về rồng mẹ (nú Thầy). Theo thuyết phong thủy thì chùa Thầy làm ở giữa hàm con rồng, sân chùa là lưỡi rồng. Hai cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều hình cong, là hai mí mắt rồng. Hai ao con là hai mắt rồng. Nhật Tiên Kiều ở phía Đông, vươn qua ao qua đền Tam Phủ. Nguyệt Tiên Kiều ở phía Tây, qua ao rồng lên núi. Hai cầu này do Trạng Bùng – Phùng Khác Khoan (người làng Bùng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây) xây cung tiến chùa Thầy vào năm 1602.
Làng Thầy dưới chân núi Thầy, mang nhiều nét làng cổ Việt Nam. Nơi đây có chùa, có Thủy Đình xây trên hồ long Trì, là nơi tổ chức múa rối nước hàng năm của hội Thầy.
Trên núi thầy có hang Cắc Cớ, hang Hút Gió, hang Bò … Là nơi hấp dẫ du khách. Trên đó còn có chùa Một Mái, động Thánh Hóa, có đền kỉ niệm nhà bác học Phan Huy Chú và nhà lưu niệm Bác Hồ …
Hang Cắc Cớ, tương truyền hơn 1000 năm trước đây, quân của tướng Lũ Gia đánh nhau với giặt Hán, phải rút về trú ở hang, rồi quyên xin ở đây. Đời vua Bảo Đại đã cho xây một bể sương cao 2 m, dung tích 18m3 để tưởng nhớ và suy tôn những vị đó là Thần. Bởi vậy, hang Cắc Cớ còn có tên là hang Thần.
Cắc Cớ, cái tên nghe vừa quen vừa lạ, vừa gian nan hiểm trở, vừa lôi cuốn hấp dẫn như chính tình yêu … Và ai đó, còn gọi hang Cắc Cớ là hang “tình yêu”.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Định hướng chiến lược – Phần 2

Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở Việt Nam sẽ được phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu. Không gian du lịch sinh thái vùng núi và ven biển Đông bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Bắc Cạn, bắc Thái, các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao được chọn khu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên (Lạng Sơn), rừng văn hóa lịch sử Pắc Pó, Trùng Khánh (Cao Bằng), Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn), Hồ Núi Cốc (Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải Phòng.
Không gian hoạt động du lịch sinh thái núi tây Bắc và Hoàng Liên Sơn chủ yếu phần phía Tây Bắc của hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh thái núi cao sa pa – Phanxi băng và Khu bảo tồn Mường Nhé, nơi đang tồn tại 38 loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như Voi, Bò Tót, Gấu chó, Hổ và Sói đỏ.
Du lịch sinh thái Đồng bằng Sông hồng và không gian chủ yếu thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hóa. Các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc Phương, ba Vì, và Xuân Thủy (khu bảo vệ rừng ngập mặn đất ngập nước (Ramsa) đầu tiên ở Việt Nam.
Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung bộ bao gồm phần phía tây Nam nghệ an, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông Nam Thừa Thiên Huế. So với các các nước trong khu vực Đông Nam á, đây là địa bàn được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – kẽ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều khu rừng nguyên sinh có giá trị.
Phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến Khánh Hòa thuộc không gian du lịch sinh thái của vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các hệ sinh thái điển hình của vùng này bao gồm rừng khộp ở Yok Đôn, đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái núi cao Ngọc Linh. Biodup – Núi Bà; hệ sinh thái san hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây Nguyên cực nam Trung bộ xuống đồng bằng Nam bộ với không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Lâm Đồng – Bình Dương – Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu – Phước Bửu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Biển Lạc – Núi Ông (Bình Thuận).
Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh sông Mê K – ông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp, Cù lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc.
Để mục tiêu phát triển du lịch sinh thái trong hệ thống các khu vực bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia thành hiện thực, hiện nay ngành du lịch đang đề nghị thủ tướng chính phủ thúc tiến hình thành cơ chế tài chính đối với hoạt động kinh doanh du lịch ở các vườn quốc gia trên nguyên tắc không bao cấp, tự hạch toán và cân đối lợi ích kinh tế xã hội giữa khai thác du lịch với bảo tồn phát triển môi trường tự nhiên, quyền lợi ích của cộng đồng địa phương. Về tổ chức mô hình một Hội đồng phát triển du lịch tại các khu bảo tồn thiên nhiên cũng sẽ được xúc tiến thành lập.
Sẽ có 4 chức năng chủ yếu cho cơ quan này gồm: Tư vấn cho chính quyền địa phương về cơ chế chính sách và triển khai các hoạt động du lịch trong khu bảo tồn; điều hòa các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị, cá nhân kinh doanh khai thác du lịch với các đơn vị cá nhân có quyền sử dụng tài nguyên sinh thái và cộng đồng dân cư tại địa phương; tham gia thẩm định các dự án du lịch trong các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia.
Hy vọng rằng với những cơ chế, chính sách hữu hiệu du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên, Việt Nam sẽ thu được kết quả khả quan.
Câu đối
– Đi bạc tóc tới chân trời, về đất mẹ quê cha, qua năm tháng phong ba, mới thấu hiểu ngọn nguồn sông núi
– Bước mòn chân góc biển, đén thăm vùng đất tổ, đã trải qua từng bao giông tố, thêm nồng nàn nghĩa nước tình non.
Bùi Hoàng Anh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001