8 dự báo về tiến bộ của khoa học thế kỷ 21

Sự phát triển sinh sản vô tính
Đã 42 năm trôi qua từ năm 1978, kể từ khi em bé đầu tiên trên thế giới ra đời nhờ thụ tinh trong ống nghiệm. Nay đã có khoảng 100 nghìn em bé như thế cũng được sinh ra tại Mỹ. Kiểu sinh này vẫn còn được để ý tới dù có rất nhiều ý kiến bởi người ta mong muốn có những hậu duệ tốt nhất. Trong thực tế, sinh hoạt tình dục vẫn tồn tại vì nó mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng con người cũng ghi nhận được những sinh vật ra đời mà không cần giao phối như rệp vừng, cây bồ công anh ở Trung Quốc. Và vì thế người ta hy vọng đến năm 2025 sẽ có một phiên bản vô tính bằng người mà bằng xương bằng thịt được ra đời. Người ta sẽ tạo ra một con người mới từ các tế bào cơ thể mà không cần sự giao hợp để dẫn đến thụ tinh. Sinh sản vô tính là phương thuốc tuyệt vời cho những ai muốn di truyền cái đẹp thông qua người mang thai hộ. Nhưng, lúc đó mối tương quan chặt chẽ giữa các cơ quan tình dục và cơ quan sinh dục sẽ bị phá vỡ. Tình dục và tình mẫu tử không phải lệ thuộc vào nhau nhiều nữa. Và khi đó tình dục cũng mất dần đi, cũng có nghĩa sẽ vắng tiếng chim hót du dương gọi bạn tình, hoa sẽ thôi không xòe cánh để mời hương phấn.
Dược phẩm mới
Người ta hy vọng rằng trong thế kỷ 21 tới, sẽ có một loại dược phẩm thay thế các hóa dược ngày nay. Lúc đó bên cạnh những loại vác xin, kháng sinh, gen liệu pháp là dược phẩm mới. Tất nhiên, dược phẩm thay thế và phương pháp trị liệu thay thế không được nhuốm chất ma thuật. Tất cả những loại thuốc xuất thân từ thảo mộc phải được ghi đầy đủ thông tin để khách hàng kiểm tra và chọn lựa. Một vài trường Y phương Tây đã mở các khóa học tìm hiểu về những loại dược thảo hoặc động vật giúp các học viên phân biệt đâu là tác dụng thật của thuốc, đâu là những lời đồn thổi. Người Mỹ đã phải bỏ ra 30 tỷ đô la mỗi năm cho các phương thuốc trị liệu chưa từng có trước đó. Tuy nhiên một số người vẫn dự đoán Tây y tiến bộ, Mỹ sẽ quay trở lại với những loại dược phẩm hiện đại.
Gen sống thọ
Trong thiên niên kỷ mới, con người sẽ sống thọ hơn. Điều đó có vẻ như đã được các nhà khoa học nắm trong tay. Nhà khoa học Seymour Benzer thuộc Viện công nghệ California của Mỹ đã khám phá ra một loại ruồi dấm còn gọi là nhặng trái cây, đột biến sống hơn 100 ngày. Như vậy là chúng đã thọ thêm 1 phần 3 thời gian so với chủng loại. Điều khác biệt mà Benzer tìm thấy là một gen đơn độc gọi là methuselah. Benzer nghĩ tới con người, hy vọng là một ngày nào đó gen methuselah sẽ được đưa vào cơ thể để con người có được tuổi thọ cao hơn.
Chưa được bệnh ung thư
Ở thế kỷ 20 người ta đã tìm ra nguyên nhân của căn bệnh nguy hiểm này. Nó không phải do trầm uất hay ức chế tình dục mà do các gen bị đột biến. Khối u hình thành khi một tế bào chịu ít nhất là hai đột biến về gen. Các bác sĩ tin rằng trong 10 năm nữa họ sẽ tìm ra khối u ngay khi nó mới hình thành. Và 25 năm tới, một loại thuốc sẽ ra đời để chế ngự sự phát triển của một số bệnh ung thư thậm chí là chữa khỏi.
Cấy ghép não
Đến nay cấy ghép não vẫn còn là chuyện không tưởng nhưng tiến sĩ Evan Snyder, nhà khoa học thần kinh trường Y, đại học Harvard đã không loại trừ khả năng này có thể thực hiện được trong tương lai. Có thể sẽ là 10 năm, 20 năm,… hoặc xa hơn nữa bởi não chứa quá nhiều tế bào thần kinh phức tạp. Không dừng lại ở đó, mới đây Snyder đã đưa ra một tia hy vọng bằng cách trích các tế bào mầm thần kinh từ phôi thai và sản xuất ra hàng loạt trong phòng thí nghiệm. Ông hy vọng khi cấy các tế bào mầm thâm canh này vào não người, chúng sẽ thay thế các tế bào não đã bị chết hay bị bệnh. Nhưng tất cả vẫn là hy vọng, tin rằng những điều này chúng ta có thể làm được trong thế kỷ này.
Tài Lộc -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Giám đốc khách sạn – Phần 3

Nghĩa là tất cả những sở thích quen thuộc của Thành mà với nó gần như là máu thịt mà má anh mỗi khi có điều kiện đều làm cho anh ăn, đều được bày ra ở đây. Thành càng ngạc nhiên hơn bởi thái độ săn đón của cô Kim. Anh chờ cho người dọn bàn bưng đĩa cuối cùng ra khỏi bàn, anh hỏi:
-Cô Kim, có phải tất cả cán bộ công nhân viên đều được ăn như vậy chứ ?
Có lẽ cô ta biết sẽ có câu đó, ông Giám đốc nào mà chẳng hỏi cho có lệ, còn ăn thì vẫn cứ ăn; cô ta nhếch mép, nụ cười nửa môi, cục thịt ở má lồi ra rung rung:
-Làm gì có thưa Giám đốc, chỉ một mình Giám đốc thôi.
-Bữa ăn như vậy hết bao nhiêu tiền ?
Cô ta trả lời giọng giễu cợt:
-Chẳng có bao nhiêu cả, chỉ vài đồng.
Thành không ngờ, anh choáng váng, vị ngon của bữa ăn bỗng biến đi đâu mất, chỉ còn lại là sự đắng chát. Người ta ai cũng cần ăn để sống, cần ăn ngon, càng ngon càng tốt và chính vì vậy mà ngành khách sạn và nhà hàng ra đời; nhưng trong cái mớ bòng bong của kinh doanh thì sự lợi dụng để được ăn ngon, để được hưởng cái đặc quyền của biết bao vị có quyền mà đâu có vị có quyền lực nào từ chối bữa ăn mà người ta tự nguyện mang tới. Thành nghiệm ra rằng chẳng có người nào bỏ tiền túi ra để cho cấp trên ăn, để mua quà cho cấp trên. Họ sử dụng tiền của nhà nước và độc quyền bằng tiền của nhà nước để độc quyền cho lợi ích của cá nhân mình. Anh vô cùng bối rối, thức ăn ngon miệng đã vào hết trong dạ dày, lại không muốn mình trở thành một khúc gỗ biết di động một cách máy móc do người ta bày đặt ra sẵn trong bộ não vốn nhạy cảm của anh. Nó sẽ rất dễ biến anh từ một con người đa cảm trở thành một người đạo mạo, đạo đức, mẫu mực chỉ biết có mình, anh ta sẵn sàng hạ thủ tất cả những ai cũng dưới chiêu bài “phẩm chất” một cách cứng đờ. Thành đang đứng trước sự lựa chọn hoặc là la hét để được tôn vinh “đạo đức” hoặc là trở lại với con người bản năng: thích ăn ngon, gái đẹp mà không phải tốn tiền. Ở vào môi trường đầy cám dỗ này việc ăn ngon, biết chơi bời là điều người ta không phải giả đò hay ngượng ngập, nó đã trở thành chai lì, nó trở thành tự nhiên mà đôi khi nếu có ai đó giả vờ không biết hoặc không biết thực sự lại bị chế giễu. Thành biết rất rõ điều đó, sự lựa chọn của anh giữa cái sống chân thật đúng với bản chất vốn có của anh và sự biến chất để anh trở thành con người biết chơi bời, hưởng thụ và modern chỉ trong gang tấc….
Sau khi uống ly nước soda chanh do người phục vụ bàn mang ra, anh gọi người phụ trách nhà hàng:
-Ở khách sạn của ta, anh em ăn cơm ở đâu?
-Dạ, ở trên lầu 7 – Cô phụ trách phục vụ bàn trả lời, Thành hỏi tiếp:
-Bây giờ đã đến giờ cho anh em ăn cơm chưa ?
-Dạ, đang ăn ạ.
Thành cám ơn người phục vụ, anh ra thang máy lên ngay lầu 7, thấy anh bước vào, bà nấu bếp mặc quần đen đang xắn lên quá gối, áo công tác màu xanh lơ, bà vội kéo quần xuống, lễ phép:
-Mời Giám đốc ăn cơm.
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Giám đốc khách sạn – Phần 2

Vậy mà sau 25 năm nó trở nên điêu tàn, toàn bộ hệ thống vệ sinh đã hoàn toàn hư hỏng, hệ thống nước nhiều nơi bị bể nước chảy tràn thấm xuống các phòng ngủ nham nhở như tấm da báo chỗ đen chỗ trắng. Thành đứng lặng rất lâu trước các căn phòng một thời nó được gọi là khách sạn, chiếc table de nuit bị sứt mẻ, ở giữa chiếc ngăn kéo lẽ ra là một tay nắm bây giờ trơ ra một lỗ tròn nham nhở, nó nằm ở giữa hai chiếc giường mộc trải chiếu, phía trên là chiếc quạt trần tróc sơn bám đầy bụi đang quạt những vòng tròn chậm chạp không đủ sức gió cho người ngồi ngay dưới nó chứ nói gì nằm ngủ. Toàn bộ máy lạnh đều bị hư, cái lỗ để những chiếc máy lạnh người ta đã bịt lại bằng gạch, bằng gỗ nhếch nhác…Thành buột miệng: “Trời ! Đây là khách sạn sao ?” Anh nhớ lại cái thuở anh còn là người lính, doanh trại của anh tuy nghèo, nhưng đâu ra đó, nơi để súng mũ, trên giường chiếc chiếu trải sạch sẽ, và ở đầu giường chiếc khăn được xếp gọn gàng vuông vắn mà thời đó các anh còn đùa nhau “Chớ có đụng vào mép chăn, đứt tay đấy”. Còn ở đây, vậy mà nó được gọi là khách sạn…
-Mời Giám đốc xuống ăn cơm.
Cô phục vụ phòng lễ độ và có phần sợ sệt, cô vừa nhận được điện của nhà bếp, cô bước qua một bên; Thành rời căn phòng bước vào thang máy dành cho nhân viên, anh bấm nút có chữ G, đèn đỏ hiện ra và chiếc thang rùng mình đưa chiếc thùng sắt chạy xuống cho đến khi đụng chiếc lò xo lớn bên dưới cùng nghe một tiếng kêu “cạch”, Thành lại bấm tiếp một nút nữa cánh cửa mới mở ra, anh vội vàng bước ra khỏi thang vì nghe đâu loại thang máy này mà lơ mơ đang bước ngang đúng lúc nó tự đóng, cánh cửa đập mạnh vỡ mặt như chơi.
-Mời Giám đốc ăn cơm.
Cô Kim nhanh nhẩu mời Thành, vừa quay đầu xuống bếp nhắc cô nấu bếp với vẻ sốt sắng:
-Mau lên, mang đồ ăn….
Thành ngồi vào bàn ăn dành cho khách của khách sạn, mâm cơm được dọn ra đủ dinh dưỡng cho một phi công. Món nào cũng còn bốc khói: có canh, đồ mặn, một đĩa thịt bò xào hành tây, và cả một ly soda chanh. Bữa cơm đầu tiên anh ăn ở khách sạn để lại cho anh ấn tượng rất mạnh, các món ăn đều rất ngon miệng, anh rất hài lòng và một cảm giác khoan khoái anh cảm nhận được sau bữa ăn rất rõ, có lẽ lâu lắm rồi anh mới được ăn một bữa ăn ngon như vậy.
-Thưa Giám đốc, Giám đốc ăn có ngon miệng không ạ ?
-Ngon lắm, cảm ơn các cô.
Thành hài lòng về kỹ thuật nấu ăn, nhưng trong linh cảm anh thấy có điều gì đó không bình thường trong bữa ăn của anh. Mâm cơm được dọn với một cung cách hết sức đặc biệt, trên chiếc bàn hình chữ nhật chỉ riêng thức ăn đã gần kín bàn chưa kể đĩa ớt là món ăn mà Thành rất thích đó là loại ớt hiểm trái xanh mỗi khi cắn giòn rụm chẳng hiểu sao cũng có tại khách sạn này; một đĩa rau sống và có cả đĩa nước mắm loại rất đặc biệt chấm rau, chấm món thịt bò xào rất ngon.
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Giám đốc khách sạn – Phần 1

Thành nhận được quyết định điều động của cấp trên, về nhận chức Giám đốc khách sạn Dòng Sông Xanh. Lẽ ra người ta phải hỏi nguyện vọng, gợi ý của tổ chức, rồi giải thích một cách cặn kẽ, người ta còn phải xem anh có làm được hay không, anh có khả năng điều khiển và kinh doanh hay không….Anh nhớ hôm ông trưởng phòng tổ chức gọi anh:
-Tổng Giám đốc đã ký quyết định điều đồng chí xuống khách sạn Dòng Sông Xanh. Chiều ngày mai đồng chí sẽ xuống khách sạn nhận nhiệm vụ. Thôi nhé! Quyết định đã ký không có gì phải bàn, đồng chí biết đồng chí phải làm gì rồi chứ!
Thành sửng sốt, anh chưa bao giờ làm, chưa bao giờ được học, chưa bao giờ bước chân đến khách sạn chứ nói gì là điều hành một khách sạn . Anh mở miệng:
-Nhưng tôi chưa bao giờ….
-Tôi đã nói không có gì phải bàn cãi.
Ông trưởng phòng tổ chức xẵng giọng, chặn ngay không cho Thành nói. Với bộ mặt hẹp bề ngang, vừa dài vừa nhọn, đanh lại, mắt mở trừng, đôi môi mỏng từng miếng được dằn nhấn rất đúng lúc ngôi thứ nhất “tôi”, ông ta được đào tạo để trở thành một người sắt đá, chỉ biết làm việc dưới sự điều khiển của người khác và bao giờ ông ta cũng nhấn mạnh từ “nguyên tắc tổ chức”, đã gọi là nguyên tắc của tổ chức rồi thì không ai có thể thay đổi được.
Thành biết, nói với con người này khác nào đâm đầu vào đá, nhưng trong lòng anh cơn tức giận kéo đến như một đám mây giông cực kỳ to lớn không thể nào ngăn cản nổi, anh đứng dậy, đến sát bàn nơi chiếc ghế quay của ông Trưởng phòng tổ chức đã xoay sang một hướng khác, tay cầm chiếc điện thoại Mỹ màu đen, ông ta đang nói chuyện với ai đó bằng một giọng điệu khác hẳn:
-Vậy hả, để anh lo, không sao hết….anh sẽ xuống ngay, yên tâm đi.
Thành nói to khác thường:
-Tôi đã nói với anh là tôi chưa được học, chưa bao giờ làm, lỡ….
Chiếc điện thoại được dằn xuống đánh rầm một cái, ông Trưởng phòng tổ chức cắt ngang:
-Đồng chí nên nhớ đồng chí là một đảng viên, tổ chức phân công, Đảng phân công…
-Đảng viên đâu phải là ông Thánh mà cái gì cũng làm được. Đảng phân công cũng phải biết Đảng viên có khả năng hay không chứ, tổ chức gì mà kỳ vậy ?
Thành nói rồi nhìn thẳng vào mặt ông Trưởng phòng tổ chức. Cơn giận có lẽ đã làm cho bộ mặt, đặc biệt là đôi mắt của anh rực lửa hay sao ấy, làm cho ông Trưởng phòng tổ chức thoáng một chút hoảng sợ; nhưng bộ mặt quyền lực và thói quen khiến người khác phải run sợ trước cương vị “tổ chức” của ông, đã cho phép ông lấy lại bình tĩnh, ông ta nói:
-Đồng chí chỉ có hai con đường, hoặc là nhận nhiệm vụ, hoặc là….
Ông ta nói lấp lửng như bản tính vốn có, Thành hiểu đó là danh hiệu Đảng viên, nếu không nhận nhiệm vụ thì cũng có nghĩa là anh sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng.
Khách sạn Dòng Sông Xanh được xây dựng từ thời Mỹ đổ quân vào miền Nam nằm cạnh sông Sài Gòn. Thời đó nó là một khách sạn vào loại hiện đại để phục vụ cho quân đội Mỹ; mỗi phòng đều có bồn tắm, phòng vệ sinh riêng, máy lạnh, đặc biệt là có hệ thống điện thoại đến từng phòng, có hệ thống báo động và gọi người phục vụ….
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Nhiều giải pháp đẩy nhanh nhịp độ cổ phần hóa doanh nghiệp

Tính đến đầu tháng 7/1999, cả nước đã có 168 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa (trong đó riêng 6 tháng đầu năm 1999 có 66 doanh nghiệp). Qua đánh giá bước đầu, các doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa đều làm ăn có hiệu quả, tăng được vốn, giải quyết được việc làm cho người lao động. Tổng giá trị thuộc phần vốn Nhà nước được đánh giá lại tăng khoảng 40 – 50% so với trước khi cổ phần hóa. Tuy nhiên so với kế hoạch, việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm do nhiều đơn vị còn lúng túng trong việc xử lý công nợ, định giá tài sản, định tỷ lệ mua cổ phần….
Để khắc phục các hạn chế nêu trên, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Trần Xuân Giá cho biết, trong quý III/1999, Chính phủ sẽ ban hành và thí điểm một số chính sách mới. Trước mắt trong tháng 7/1999, ban hành Nghị định của Chính phủ về giao, bán, khoán cho thuê doanh nghiệp Nhà nước. Lập quỹ khuyến khích cổ phần hóa, củng cố và phát triển các quỹ đầu tư ở một số địa phương. Việc xử lý nợ ngân sách và Ngân hàng của doanh nghiệp Nhà nước thuộc danh sách cổ phần, giao, bán, khoán, cho thuê cũng được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể: công nợ lớn thì cho phép cơ cấu lại nợ; đối với phần nợ Ngân sách đã xác định là không thu hồi được thì cho xóa nợ; nợ Ngân hàng không thu hồi được thì cho khoanh nợ, dùng cơ chế tài chính để xử lý. Cũng theo tinh thần đổi mới này, quy định khống chế tỉ lệ mua cổ phần cũng sẽ bãi bỏ. Ngoài ra cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa cũng sẽ cải tiến thuận tiện và giản đơn hơn, mạnh dạn thực hiện theo phương châm “nếu giá có thấp thì công nhân hưởng”.
Cũng theo Bộ trưởng Trần Xuân Giá, trong tháng 8/1999 Bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ trình Chính phủ một phương án thí điểm bán phần vốn góp của Nhà nước trong các liên doanh với nước ngoài cho các nhà đầu tư trong nước để tạo thêm kênh huy động vốn trong nước và góp phần tạo nguồn Ngân sách, cũng như bán lại cổ phần của Nhà nước các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa không cần thiết có vốn của Nhà nước. Để hướng dẫn thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài (QĐ số 145/1999/QĐ-TTg ngày 28/6/1999), trong tháng 8/199 Bộ Kế hoạch – Đầu tư cũng sẽ phối hợp các Bộ, ngành liên quan xây dựng văn bản nhằm thu hút vốn, công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trình độ cạnh tranh và mở rộng thị trường để đầu tư phát triển các doanh nghiệp.
Giai thoại làng văn
Nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988) vốn có tài độc tấu ca dao. Với giọng đọc sang sảng, ứng xử mau lẹ, diễn ý dí dỏm, anh đã “cù” được nhiều người. Buổi sinh hoạt nào đến mục “văn nghệ giải lao”, có Thanh Tịnh là y như có tràng cười rôm rả, tiếng vỗ tay rào rào, tiếng hô “lại ! lại !”.
Tại Hội nghị “Thanh niên đô thị dùng hàng nội” ở Khu Bốn, sau khi tấu bài “Cụ già Đông Bắc”, công chúng yêu cầu Thanh Tịnh ứng tấu ca dao kịp thời. Anh húng hắng một lúc, rồi cất tiếng:
….”Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa
Một bao “Cotab” bằng ba con gà
Ba con gà cục ta cục tác
Bao “Cotab” ngáp ngáp là xong !….”
Tiếng cười rộ xen tiếng vỗ tay và yêu cầu “lại ! lại !”. Thanh Tịnh hứng thú đọc lại lần hai. Nhưng lần này, đến câu cuối, tự nhiên, anh lúng búng một lúc rồi cúi đầu chào khán giả…
Vào sau cánh gà, Thanh Tịnh ngã tay dơ cho tôi xem hàm răng giả rồi thở dài:
-”Khổ quá, Châu à, vì cái này rơi mà ngáp ngáp cũng không xong !…”
Hoàng Minh Châu – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Các công ty lữ hành khách sạn liên doanh cần biết bảo quản hồi hương thi hài – dịch vụ mới có ở Việt Nam

Cho đến nay, người Việt Nam không còn xa lạ với thuật ngữ “ướp xác” nữa. Ướp xác có thể hiểu là cách bảo quản thi hài người chết theo một thời gian nhất định. Từ trước đến nay ở Việt Nam chúng ta đã có vài công ty đứng ra làm công việc này. Nhưng kết quả vẫn chưa cao do kỹ thuật còn non kém. Kết quả là thi hài vẫn bị biến dạng, thời gian lưu giữ ngắn. Trong những năm gần đây, lượng người nước ngoài đến công tác, du lịch tại Việt Nam khá cao. Chuyện rủi ro cho những số phận: bị tai nạn, bị bệnh hiểm nghèo chết tại Việt Nam là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy, việc Nhà nước ta chấp nhận cho Hiệp hội ướp xác bảo quản hồi hương thi hài quốc tế (International Fegeration Thanatogy Association) gọi tắt là IFTA được phép hoạt động tại Việt Nam là điều cần thiết.
Sau khi nghiên cứu IFTA đã ủy quyền cho công ty Trách nhiệm hữu hạn xuyên Thái Bình Dương có trụ sở chính tại Hà Nội đảm nhận. Để chuẩn bị cho hoạt động này, ngay ngày đầu công ty đã cử bác sĩ Lã Thái Hoạt sang đào tạo tại Trung tâm kỹ thuật CEET (Pháp) trong sáu tháng.
Tại trung tâm, bác sĩ đã được đào tạo cơ bản thực tập ướp bảo quản 60 thi hài đủ sắc tộc, lứa tuổi trong các trường hợp tử nạn khác nhau. Sau khi tốt nghiệp, được Bộ Y tế chấp nhận, Văn phòng chính thức được hoạt động theo Giấy phép số 402 ngày 18/1/1999 do Bộ Y tế cấp.
Khi được hỏi về hình thức hoạt động, ông Nguyễn Minh Phú giám đốc công ty cho biết; với số vốn đầu tư là 70 nghìn USD, chúng tôi đã trang bị xe cơ động và các loại dụng cụ, hóa chất cần thiết cho 3 văn phòng Bắc – Trung – Nam đảm bảo phục vụ một cách nhanh nhất. Về đối tượng phục vụ trước mắt là những người nước ngoài đang sinh sống, công tác, đi du lịch tại Việt Nam.
Khi có trường hợp tử nạn xảy ra cần gọi gấp cho chúng tôi theo địa chỉ đã thông báo và mọi vấn đề sẽ được giải quyết một cách nhanh nhất. Từ thủ tục an ninh đến việc bảo quản, chuyển thi hài về quê hương họ chúng tôi đều phải đảm nhận. Được biết giá bảo quản một thi hài hiện nay chưa kể tiền hồi hương là 8000 – 10.000 USD. Và tất nhiên số tiền này do Hiệp hội IFTA thanh toán.
Hiện nay IFTA có 405 văn phòng hoạt động trên 70 nước cùng hoạt động song song hỗ trợ lẫn nhau. Về kỹ thuật bảo quản, sau khi thực hiện các thao tác kỹ thuật trên cơ thể người chết, với điều kiện bình thường xác có thể để được khoảng 1 tháng, trong nhiệt độ 8 – 12oC bảo quản được 6 tháng. Điều đặc biệt trong thời gian này, có thể hoàn toàn yên tâm thi hài không bị biến dạng và giữ nguyên được màu sắc, không bốc mùi gây ô nhiễm.
Đây là một loại hình dịch vụ đã hoạt động lâu năm trên thế giới nhưng còn thực sự mới mẻ với Việt Nam. Có thể dịch vụ cũng là một địa chỉ tốt cho các khách sạn, các công ty lữ hành, các cơ quan, đơn vị có người nước ngoài đang công tác, khách du lịch khi gặp chuyện rủi ro.
Sỹ Hào – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Người tâm huyết với nghề mộc Kim Bồng truyền thống

Du khách trong và ngoài nước đến Hội An không ai không một lần ghé thăm cơ sở sản xuất hàng gỗ mỹ nghệ Kim Bồng của anh thương binh Đinh Hữu Lời ở 108 Nguyễn Thái Học để mua hàng lưu niệm, ký kết hợp đồng sản xuất, mua bán.
Nguyên là đội trưởng biệt động thành thị xã Hội An, năm 1968, trong một trận chiến đấu ác liệt với kẻ thù, anh bị thương và bị địch bắt đày ra Côn Đảo 6 năm. Kiên trung một lòng với cách mạng, kiên quyết không chào cờ 3 que của ngụy quyền, anh bị đánh đập dã man. Đến năm 1974 anh được tha và về tham gia công tác trong ngành công an, rồi làm phó giám đốc công ty du lịch – dịch vụ, Ban tổ chức chính quyền thị xã. Năm 1990, anh về hưu với đồng lương ít ỏi và một thân hình thương tật 2/4.
Không cam chịu thiếu thốn, anh quyết tâm xây dựng cuộc sống mới bằng quyết tâm nghị lực của mình. Được bạn bè, chính quyền giúp sức, anh mở xưởng mộc để sản xuất hàng mộc mỹ nghệ. Hội An có nghề mộc Kim Bồng truyền thống tinh xảo đã giúp anh thành công. Vừa làm vừa học hỏi kết hợp nết tinh xảo của mộc Kim Bồng với các làng nghề mộc khác, sản phẩm mộc mỹ nghệ của anh từ những bức bình phong, tranh khảm xà cừ, những hộp đựng trà, khay bình ly, đến bàn ghế, giường ngủ… đều có nét độc đáo riêng, thu hút sự chú ý của khách hàng các nước như Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Úc, Đức…
Những năm gần đây, du lịch Hội An phát triển mạnh, lượng khách du lịch đến Hội An ngày càng đông, thông qua khách du lịch, sản phẩm mộc Kim Bồng của anh Đinh Hữu Lời đã vươn mạnh ra thị trường nước ngoài. Năm 1995 đã xuất khẩu đạt 20.000 USD, năm 1996: 50.000 USD lợi nhuận 60 triệu đồng; năm 1997 xuất đạt: 70.000 USD lợi nhuận khoảng 120 triệu đồng; năm 1998: 120.000 USD lợi nhuận 200 triệu đồng. Năm 1999, dự kiến sẽ có doanh thu 160.000 USD.
Hiện tại anh có 3 cơ sở sản xuất và trưng bày sản phẩm, có 60 lao động thường xuyên làm việc, trong đó có 13 lao động là con thương binh liệt sĩ, 8 bộ đội xuất ngũ, 11 lao động là người tàn tật, thu nhập bình quân của lao động chính từ 700.000đ- 800.000 đ tháng; người có tay nghề cao có thể thu nhập hơn 1 triệu đồng/tháng. Các em mới học nghề, lao động phổ thông thu nhập cũng từ 250-300.000 đồng/tháng. Là người đi lên từ nghèo khó, anh Đinh Hữu Lời rất thông cảm với nỗi khổ đói nghèo, tàn tật của đồng đội và con em họ. Những năm qua, cơ sở của anh đã trực tiếp dạy nghề cho trên 100 học sinh là con nhà nghèo, con thương binh, liệt sĩ trong vùng, các em tàn tật… giúp các em có việc làm ổn định cuộc sống.
Làm kinh tế, anh Lời không quên trách nhiệm với xã hội. Mặc dầu được miễn giảm thuế nhưng năm 1998, anh vẫn nộp thuế 7 triệu đồng, đóng góp ủng hộ các hoạt động xã hội từ thiện trên địa bàn thị xã, giúp đồng bào bị lũ lụt 15 triệu đồng.
Yêu mến nghề truyền thống, làm giàu bằng nghề truyền thống, cứu giúp những người nghèo khó, giúp họ có việc làm, giữ được nghề mộc Kim Bồng truyền thống của địa phương anh thương binh 2/4 Đinh Hữu Lời đã thực hiện lời dặn của Bác hồ “Thương binh tàn nhưng không phế”.
Nguyễn Văn Thiêng – – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Những chuyện gắn liền với lịch sử Hội An

Chùa Ông Bổn hay m Bổn ?
Hội An là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Nam. Phố Cổ là khu phố của người Hoa đến lập nghiệp từ thời con Chúa Nguyễn là Nguyễn Phước Nguyên cai quản xứ Quảng. Đây là đô thị cổ nhất ở Đông Nam Á.
Du khách đến Hội an nếu có ai hỏi Phố Cổ rộng lớn bao nhiêu thì thường được người địa phương trả lời: Thượng chùa Cầu, hạ m Bổn (hoặc Ông Bổn). Có nghĩa là chiều dài của khu phố bắt đầu từ chùa Cầu chạy dài đến chùa m Bổn (hoặc Ông Bổn).
Theo sách báo, tài liệu cũng như cư dân Hội An, kẻ thì gọi là Âm Bổn, người lại gọi là Ông Bổn. Vậy gọi m Bổn đúng hay gọi Ông Bổn đúng ? Tôi nghĩ rằng Trung tâm Bảo tồn di tích phố Cổ là nơi có nhiều tư liệu để khẳng định điều này nên tìm đến. Một cán bộ ở đây cho biết, mãi đến nay cũng chưa rõ gọi m Bổn hay Ông Bổn là đúng vì không có tài liệu để xác minh.
Nghe trả lời tôi hơi thất vọng nhưng quyết không bỏ cuộc. Tôi hỏi đường tìm đến chùa m Bổn hay ông Bổn gì đó. Và chỉ mất 10 phút đi bộ là đã tìm được đến nơi. Nhưng trước mặt tôi không phải là một ngôi chùa mà là Hội quán Triều Châu đồ sộ. Tôi nhìn chung quanh thì cũng chẳng có dấu tích gì về chùa chiền cả. Tôi đành đi thẳng vào cổng hội quán để tìm người hỏi. Một vị tuổi khoảng 70, tóc gần bạc trắng tiếp tôi và tự giới thiệu tên là Khoa Toàn người trông nôm hội quán. – Tôi muốn tham quan chùa m Bổn, có người còn gọi là Ông Bổn. Ông Toàn đáp: – Đúng là ở đây.
Tôi ngạc nhiên: – Nhưng đây là Hội quán Triều Châu.
Ông gật đầu: – Vâng, đúng vậy.
Và ông tiếp tục giải thích: Thuở trước, trước mặt hội quán này còn là bến tàu thuyền thì tại đây có một ngôi miếu, gọi là miếu Ông Bổn chứ không phải là chùa như người ta thường gọi. Theo người Hoa thì chùa phải có sư, sãi và thờ Phật. Còn thờ Thần thì gọi là miếu và chỉ có một người trông nom, thờ cúng. Đến cộng đồng Triều Châu lập hội quán thì cũng lấy nơi này thờ Ông Bổn vì ông là người đồng hương.
Tôi: – Nghe nói Ông Bổn có tên là Mã Viện, không rõ ông có tài đức như thế nào mà được người Hoa sùng bái ?
Tôi không rõ ông Bổn có phải là Mã viện hay không mà chỉ nghe nói chức tước của ông là Phục Ba Tướng quân. Theo truyền thuyết thì ông có pháp thuật chế ngự được sóng gió. Những người đi biển gặp phải phong ba bão táp mà cầu nguyện đến ông thì trong chốc lát sóng yên biển lặng, thoát được hiểm nguy. Những cụ già kể lại, công đức của ông như vậy nên thuyền bè sau khi cập bến, bất luận người Hoa thuộc Bang hội nào cũng vào miếu thờ Ông để tạ ơn đã phù hộ cho họ được thuận buồm xuôi gió, bình an vô sự.
Tôi ngỏ lời nhờ ông hướng dẫn đến nơi thờ ông Bổn. Tôi đi theo ông vào cuối chính điện. Tại đây, một bàn thờ bằng gỗ quý chạm trổ rất tinh vi. Ông chỉ tay vào pho tượng giới thiệu: – Vị ngồi trên ghế sơn đỏ, thiếp vàng đặt ở giữa là Phục Ba Tướng quân. Bên phải là có quan võ, bên trái có quan văn đứng hầu.
Tôi chăm chú quan sát pho tượng, cao khoảng 7 tấc và những tấm gỗ chạm trổ, ghép lại với nhau thành một trang thờ với nhiều truyện tích như “Bát tiên quá hải”, “Cá hóa long” v.v… Quả là một kỳ công quí hiếm. Tôi hỏi: – Chạm trổ quá đẹp như thế này có phải là thờ Kim bồng ?
Tất cả, từ pho tượng đến đến cột kèo, bàn ghế, trang thờ và cả những cây cột bằng đá hoa cương của hội quán cũng đều đưa từ Trung Quốc sang. Theo các cụ truyền miệng lại thì từ thiết kế đến kích cỡ đều đã có sẵn, khi đem qua chỉ còn ráp lại với nhau. Chỉ những phần đơn giản như xây cất thì mới làm tại chỗ. Tôi hỏi: Ông có biết hội quán hình thành từ năm nào không ?
Tôi không nhớ chính xác, chỉ được biết là vào cuối thế kỷ 18.
Tôi tính nhẩm: – Như vậy là miếu ông Bổn tồn tại trên 150 năm rồi mới đưa vào thờ trong hội quán Triều Châu.
Vâng, có thể như vậy.
Tại sao có người lại gọi là chùa m Bổn.
Câu hỏi này được ông Khoa Toàn lý giải: – Trước năm 1954, phía trước hội quán là một thửa ruộng vường rộng, có hai cây cừa (cây đa) cổ thụ. Nối tiếp với vườn là một hồ sen mênh mông tất cả đều là đất của hội quán. Hàng năm, vào ngày rằm tháng giêng hội quán Triều Châu tổ chức lễ hội, đốt pháo hoa và xô cộ. Pháo nổ suốt đêm không ngớt, xác pháo ngập lút cả bàn chân. Ngày Rằm thì cúng chay, quan gày 16 thì cúng mặn. Chiêu đãi có đến năm sáu trăm người từ khắp nơi về dự. Không phân biệt là người Hoa bang hội và ngay cả người Việt cũng có mặt. Nhân dịp này người đến lễ bái có tập tục vay tiền cõi âm làm vốn buôn bán mà họ gọi tắt là m (cõi âm) Bổn (vốn liếng). Tôi nghĩ rằng từ Âm Bổn phát sinh từ sự kiện này.
Cũng theo lời ông Toàn thì trước đây có một đoàn cán bộ từ Hà Nội và Hội An nghiên cứu di tích lịch sử phố Cổ, khi đến tham quan hội quán Triều Châu có nói cho ông biết ông Bổn chưa chắc đã đúng là Mã Viện vì Vua Trung Quốc phong chức Phục Ba tướng quân cho tất cả ba người trong đó có ông Mã Viện.
Xuân Vũ-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Hội thảo “Giá phòng khách sạn – thực trạng và giải pháp”

Làm thế nào để kìm hãm sự phá giá đang ở nguy cơ nghiêm trọng, lấy lại mức ổn định cần thiết, đem lại cho ngành kinh doanh khách sạn sự tăng trưởng xứng đáng với tiềm năng du lịch ?….Đó là những trăn trở của hầu hết các đại biểu khi về dự Hội Thảo “Giá phòng khách sạn – thực trạng và giải pháp” do Tổng cục Du lịch tổ chức vào này 15-7 tại khách sạn Nikko Hà Nội.
Hơn 100 đại biểu đại diện lãnh đạo Tổng cục Du lịch, một số Bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu, cùng lãnh đạo các sở Du lịch, Thương mại – Du lịch, các doanh nghiệp khách sạn thuộc mọi thành phần kinh tế nằm trên một số trung tâm du lịch lớn về dự Hội thảo.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Đặng Văn Tín – Chủ trì Hội thảo đã đưa ra đề dẫn nhằm định hướng những nội dung trọng tâm. 23 tham luận (trong đó có 19 phát biểu tại hội trường) đều khẳng định: Hạ giá là một hiện tượng cạnh tranh nằm trong quy luật tất yếu của thị trường. Nhưng hạ giá ở mức thái quá do sức ép của cạnh tranh khốc liệt đã không đem lại những hiệu quả tích cực mà ngược lại còn gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới mặt bằng kinh doanh khách sạn nói chung, khiến cho các doanh nghiệp khách sạn phải chịu những thiệt hại đáng lo ngại. Hầu hết các ý kiến đều đã đưa ra những nguyên nhân khá đồng nhất. Những vấn đề mấu chốt là tìm ra những giải pháp để khắc phục. Đây là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm. Và có những ý kiến hoàn toàn trái ngược nhau. Trước hết nói về biện pháp tình thế mà lâu nay ở một số địa phương đang áp dụng, đó là cơ quan quản lý Nhà nước quy định giá tối thiểu cho các doanh nghiệp khách sạn theo hạng sao và theo khu vực. Ở điểm này, cùng là cơ quan có chức năng nghiên cứu nhưng ý kiến của Khoa Du lịch trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: cơ quan quản lý Nhà nước không nên và không thể quy định giá phòng khách sạn. Ngược lại đại diện Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch lại cho rằng việc kiểm soát giá tối thiểu là giải pháp tình thế cần thiết. Vấn đề này còn chưa ngã ngũ, bởi theo phiếu trưng cầu ý kiến được tiến hành tại hội trường thì không có luồng ý kiến nào đạt số phiếu tối đa. Tuy nhiên xu thế nghiêng về hướng Nhà nước không cần dùng biện pháp hành chính để quản lý giá, nhưng cần thiết có sự can thiệp trong một chừng mực nhất định bằng những cơ chế, chính sách đồng bộ, cung cấp những thông tin về thị trường….Còn giá cả do doanh nghiệp khách sạn tự chịu trách nhiệm theo điều tiết của quy luật thị trường, đảm bảo tính chủ động kinh doanh của doanh nghiệp.
Có một số ý kiến theo xu hướng trung hòa là: các doanh nghiệp khách sạn tự xây dựng phương án giá của mình, căn cứ vào những yếu tố như: khả năng cung cấp dịch vụ, vị trí địa lý….Sau đó đăng ký cam kết với cơ quan quản lý Nhà nước, chấp nhận sự kiểm soát. Vấn đề này xem ra khó thực hiện, bởi ngay trong cùng một khách sạn cũng có nhiều loại phòng có chất lượng khác nhau, vị trí lợi thế khác nhau….Vì vậy, trong phiếu trưng cầu cũng không đạt được con số khẳng định.
Một vấn đề khác đã từng là đề tài tranh luận trong giới quản lý và kinh doanh khách sạn, đó là việc thành lập Hiệp hội khách sạn, hoặc Tổng công ty khách sạn. Hầu hết các tham liệu và phiếu trưng cầu ý kiến đều nhất trí nên thành lập Hiệp hội khách sạn (90% ý kiến). Nhưng có ý kiến còn lo ngại về khả năng điều hành có hiệu quả của Hiệp hội.
Có một giải pháp chung nhất được hầu hết các tham luận đề cập đến, đó là việc giải quyết sự mất cân đối giữa cung và cầu. Giải pháp này liên quan tới nhiều vấn đề, trong đó có những lĩnh vực ngoài tầm tay của ngành Du lịch. Các ý kiến của đại biểu doanh nghiệp nước ngoài tập trung chuyên sâu về vấn đề này. Trước hết phải nâng cao chất lượng phục vụ, sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch đặc thù. Cần tháo gỡ những vướng mắc trong thủ tục hành chính….Đồng thời Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên như giảm các loại cước phí, các loại thuế…Cùng với việc làm tốt công tác tuyên truyền quảng bá nhằm thu hút khách, tăng lượng cầu. Đây là giải pháp cơ bản và lâu dài.
Liệu những giải pháp trên đã đảm bảo một tương lai tốt đẹp cho sự phục hồi của ngành kinh doanh khách sạn ? Vẫn là sớm nếu đưa ra lời khẳng định. Nhưng đó lại là những tiền đề cơ bản để Tổng cục Du lịch cùng các Bộ, Ngành, Cơ quan chức năng đi đến sự thống nhất cho một chủ trương có tầm chiến lược. Quản lý giá là vấn đề phức tạp, lâu dài, không thể một sớm một chiều giải quyết ngay được. Thiết nghĩ cơ bản nhất vẫn là chất lượng dịch vụ. Điều đó không phải bàn cãi, mà rất cần được các doanh nghiệp khách sạn xem như yếu tố quyết định sự tồn tại của mình.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Sông Truồi – môi trường bị ô nhiễm

Đập hồ Truồi đã được ngăn dòng, khả năng có sức chứa trên 25 triệu mét khối nước, đập cao trên 35m, lớn đủ sức giữ nước và hệ thống tưới nhằm cấp nước cho các cánh đồng lúa bảo đảm 2 vụ ăn chắc ở phía Nam tỉnh: Phú Lộc – Phú Vang và Hương Thủy, đó là mong ước của bao đời. Hồ Truồi – hồ trên núi sẽ tạo môi trường khí hậu tiểu vùng, chủ động điều chỉnh nước chống hạn – ngăn lũ lụt hàng năm, là cảnh quan đẹp thu hút du khách tham quan nghỉ ngơi cảnh sơn thuỷ: Đến với hồ Truồi, sông Truồi sẽ đưa du khách ngược dòng đến chân đập. Nhưng sông Truồi hôm nay đã làm cho chúng ta băn khoăn lo lắng bởi sự ô nhiễm quá trầm trọng. Sau khi đắp đập chặn dòng, sông Truồi chỉ còn một nguồn nước đổ vào sông đó là Khe Chai, một khe nhỏ từ trằm vụng Bính phía bờ Bắc chảy vào, lượng nước không đáng kể nhất là mùa hè khô cạn. Cửa sông thông ra phá Cầu Hai có hai đập ngăn mặn xâm nhiễm đồng thời giữ ngọt cho các cánh đồng đôi bờ Lộc Điền – Lộc An. Vì vậy có thể nói sông Truồi không chảy – trở nên ứ đọng. Đồng bào sống đôi bờ, chợ Lộc An – chợ Lộc Điền sát bờ sông làm nghề bột sắn, chất thải làm nghề, rác sinh hoạt… đủ loại đều đổ xuống sông Truồi. Bởi vậy sông Truồi hôm nay không còn dáng vẻ trong xanh thơm mát vốn có mà nước sông sánh đục hôi thối, nghề nuôi cá lồng thất bại, cá nhiễm bệnh chết do nước ô nhiễm, tác hại trầm trọng đến môi sinh nhất là đoạn từ phía dưới cầu Truồi về xuôi.
Gìn giữ bảo vệ sông Truồi sạch đẹp là trách nhiệm và quyền lợi của nhân dân địa phương đôi bờ, tránh mọi hậu quả không đáng có và tạo nguồn lợi đón khách du thuyền xuôi ngược trên sông Truồi tham quan nghỉ ngơi hồ Truồi – Bạch Mã – Tuý vân – Cảnh Dương – Lăng Cô.
Sáp nhập Công ty Du lịch Quảng Nam và Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng
Lãnh đạo Tổng cục Du lịch Việt Nam đã quyết định sáp nhập 2 công ty Du lịch đóng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Công ty Du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng và công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng thành 1 công ty lấy tên là công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng. Đây là hai công ty kinh doanh du lịch lớn nhất trên địa bàn trong lĩnh vực lữ hành và khách sạn, có bề dày hoạt động khá lâu, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng. Mục đích của việc sáp nhập là tập trung nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như lực lượng nhân sự, tạo ra một công ty đầu đàn về du lịch trên địa bàn Đà Nẵng và miền Trung. Công ty mới có tổng số 6 khách sạn với 185 phòng, trong đó 1 khách sạn 3 sao, 4 khách sạn 2 sao, Trung tâm lữ hành và điều hành du lịch, với tổng số hơn 400 cán bộ công nhân viên.
Ngô Thị Hoàng Anh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999