Cử chỉ ngôn ngữ trong giao tiếp

Khi giao tiếp với người nước ngoài chúng ta thường thấy họ có nhiều cử chỉ phụ họa, “hoa chân múa tay” để câu chuyện thêm sinh động giúp người đối thoại dễ hiểu hơn. Mặt khác xét một cách nghiêm túc đó cũng là một loại tín hiệu ngôn ngữ giống như người Việt Nam lắc đầu là không, là từ chối vậy.
Mặc dù chỉ là những cử chỉ đơn giản, theo cách nhìn bề ngoài nhiều người tỏ ra không mấy quan tâm nhưng thực chất bạn có thể gặp phiền toái lớn nếu không biết thứ ngôn ngữ ấy bởi nó đã thành dấu hiệu chung diễn tả những phản ứng, những mong muốn tế nhị không tiện nói ra bằng lời.
“Kẻ nói phải có người nghe” ở đâu cũng vậy, nên trong giao tiếp, đối thoại với người nước ngoài việc tỏ ra mình đang chú ý lắng nghe, quan tâm đến câu chuyện là rất cần thiết. Hãy khép hai bàn tay vào nhau, đưa nhẹ lên phía trước miệng và hơi nghiêng mình về phía người đang nói đó là hành động mà người phương Tây hay làm để tỏ ra họ đang lắng nghe một cách chăm chú và cũng có nghĩa câu chuyện rất đáng quan tâm và bổ ích với họ.
Khi tiếp xúc nên xác định và giữ khoảng cách cho phù hợp tùy vào mối quan hệ tình cảm giữa hai bên. Tránh đứng gần quá với những vị khách to, béo, đặc biệt là với phụ nữ. Điều này dễ gây sự so sánh và đôi khi là mặc cảm hoặc ít nhất tạo không gian hẹp, vướng víu, khó cử động cho đối tượng bên cạnh.
Nếu muốn bộc lộ thái độ của mình: thích thú, đồng ý, hứng khởi thì nên chọn tư thế mà các nhà hoạt động đối ngoại hay dùng, họ đưa hai tay ra trước, lòng bàn tay giơ lên ngang tầm bụng. Cả hai tay mở, hướng về phía người tiếp chuyện. Mắt nhìn thẳng vào vị khách với ánh mắt biểu lộ lòng nhiệt tình. Điều này tránh cho người nói khỏi cảm giác mình đang độc thoại. Còn ngược lại nếu bạn muốn rút lui khỏi câu chuyện thì trước khi ngắt lời bằng câu xin lỗi hãy thông báo trước với người nói bằng những cử chỉ sau: Chụm hai đầu gối chân vào nhau, người ngả về phía sau, hai tay bắt chéo lên bụng. Người nói sẽ hiểu và dừng lại đúng lúc. Về phía mình, nếu bạn đang nói cũng nên để ý đến cử chỉ này của người khác bởi chẳng tốt gì khi ta nói mà họ không muốn nghe. Nhưng nếu nhận được thông điệp sau thì bạn nên đi sâu vào chi tiết mình đang nói: người “kia” chụm hai ngón cái và ngón trỏ hoặc tất cả các ngón tay vào nhau. Đó là thói quen của các nhà doanh nghiệp, ngoại giao khi định hướng sự quan tâm vào ý tưởng nào đó.
Cần tránh những thói quen xấu như ngáp vặt, rung đùi, bẻ ngón tay… nó không bình thường với người nước ngoài. Đừng có những cử chỉ gây nghi ngờ, khách ngoại quốc thường kiểm chứng lời nói bằng cách nhìn thẳng vào mắt người đối diện, không nên lảng tránh ngay và quay đi nơi khác, bạn có thể giả gật đầu hoặc vuốt mái tóc khi thấy không tiện nhưng phải để ý đến các cử chỉ như bất giác lấy tay che mặt, xoa trán, thái dương hoặc cằm, vuốt râu (được hiểu của tính úp mở, không thành thật) điệu bộ đó sẽ làm người ta hiểu sai về bạn.
Mỗi nơi, mỗi dân tộc có những hành động, cử chỉ biểu cảm riêng nhiều khi trái ngược với điều chúng ta biết như người Bungari lắc đồng khi đồng ý, người Nhật nói chuyện buồn thường cười để tránh cho người khác lụy theo…Tất cả đòi hỏi vốn hiểu biết của chúng ta phải được nâng cao để đạt hiệu quả tốt nhất trong giao tiếp – hoạt động vốn không thể tách rời khỏi đời sống con người.
Đàm Văn Đảng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Khách du bỗng có một người…

Khách sạn bây giờ phát triển. Khách du lịch quả thật là dập dìu, nhiều vô kể. Nhưng “Khách du” cũng có năm bảy loại. Có điều là trong môi trường này, họ xuất đầu lộ diện với những bước chân dung tự họa thật vô cùng phong phú. Nó trở thành những đề tài hấp dẫn đối với những ai thực sự biết quan tâm đến việc đời.
Một lần, tôi ghé qua một khách sạn của Hà Nội với vài ba người bạn. Chúng tôi ngồi ở góc một phòng ăn rộng lớn, vừa trò chuyện với nhau, vừa giải khát. Không khí trong phòng đang êm ả thì bỗng có một tốp chừng ngót nghét chục người. Dẫn đầu nhóm này là một tay có vẻ đàn anh, cũng complet, cravate như ai… với cái vẻ bề ngoài coi bộ như một tay ăn chơi, nhưng khẩu ngữ thốt ra thì lại thô kệch quá thành thử sinh ra lố bịch.
Vừa bước vào phòng, anh ta đã kéo ghế, quát tháo bọn đàn em inh ỏi. Nào là gọi bia “xịn”… đồ nhắm xả láng… Tiếng nói phát ra, bọn đàn em tíu tít. Dường như anh ta đã quá quen thuộc với cái lối ậm ọe này. Mỗi lần nói một câu, anh ta lại đánh đai thêm một câu chửi thề mà có lẽ chỉ có cánh bụi đời mới ưa dùng…
Bia vào, nhời ra…
Càng ngày anh ta nói càng hăng. Dường như cái cao hứng trộn lẫn với men bia cứ bốc lên ngùn ngụt…
Mẹ nó chứ… Với tao… Tiền bạc không là cái gì hết…
Ông N… với tao… lúc nào tao gọi cũng xong ngay…
Say thì rõ là không say… Vì tất cả đều mới bắt đầu vào cuộc. Nhưng bọn đàn em đi ăn theo nghe “đại ca” nói dữ quá, mắt cứ hấp ha hấp háy, có vẻ thán phục:
Dạ… Giám đốc ăn chơi hết ý đấy ạ…
Anh bạn ngồi kế bên, hích nhẹ vào sườn tôi thì thầm:
Thằng cha này dường như nó quen cái thói “làm vua một đêm” rồi chắc ?…
Một tiếng chen vào:
Một thứ bọ gậy ý mà…
Lại có tiếng hỏi:
Hắn lấy đâu ra tiền mà đập phá dữ vậy ?
Một tiếng bỏ lửng:
Chắc lại “tiền chùa”…
Đến mục hạch sách chủ quán gọi rượu tây nghe mới khiếp chứ:
Mang rượu “xin” ra đây. Tao không quen uống rượu rởm…
Có lẽ ngứa tai quá nên mọi người ngồi ăn quanh đấy đều quay lưng lại. Họ thì thầm đàm tiếu với nhau qua những nụ cười…
Lúc ấy, duy chỉ có một người đã đứng tuổi, ăn vận lịch sự ngồi ở tận cuối phòng, lặng lẽ đứng dậy, lừ lừ tiến lại gần anh ta rồi bật ra một tiếng đanh, gọn và chắc nịch:
Này…
Anh ta quay lại, chưa hết ngạc nhiên thì lại được bồi thêm một câu:
Anh lớn tiếng rằng anh quen ông nọ, ông kia… Con người mà cuộc đời cứ phải nấp dưới bóng của ông nọ, ông kia để mà sống thì có khác gì con giun, con dế ?
Anh ta ngây người như chế đứng, lập túc lại được nghe thêm một câu:
Anh huênh hoang khoe mẽ tiền với bạc. Vứt mẹ nó cái kiểu huênh hoang ấy đi. Cái sức của anh phỏng có được bao nhiêu tiền ?…
Thật là một lớp đối thoại đầy kịch tính.
Tôi chợt nhớ đến cụ Nguyễn Du đã vẩy bút thành thơ, tạc nên chân dung một nhân vật trong truyện của ông:
“Khách du bỗng có một người…”
Người ấy là ai, khi đọc truyện Kiều chắc các bạn cũng đã rõ. Có điều là vị “khách du” kia với nhân vật mà tôi đề cập đến trong bài viết này có một cái gì đó có vẻ như cùng hội, cùng thuyền.
Thế nhưng vị “khách du” kia là một tay ăn chơi có hạng, biết cảm nhận được cái đẹp của tạo hóa bằng tâm hồn thơ của chính mình. Còn cái mẫu con người kia thì cục cằn, thô lỗ, lạc lõng trong dòng đời đang cuồn cuộn chảy. Nó ví như những cây cỏ dại, phải nhổ đi cho sạch sẽ, nhất là ở vào thời điểm chúng ta đang cổ động cho phong trào văn minh, lịch sự.
Lê Hoàng-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Khi lòng tham trỗi dậy

Ngày 23/8 Toà án nhân dân Thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án cố ý làm trái qui định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng do Trần kỳ Phương – nhân viên bảo tàng Đà Nẵng gây ra.
Trần Kỳ Phương (tức Trần Phương kỳ) sinh năm 1958 tại Đà Nẵng. Phương đã viết 3 cuốn sách, hơn 20 bài báo về nghệ thuật và văn minh Chăm-pa, đã tham gia tổ chức triển lãm giới thiệu nghệ thuật Chăm-pa bằng ảnh và mô hình tại Nhật Bản, và đã được nhận huy chương vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hoá dân tộc của Bộ Văn hoá Thông tin.
Năm 1993 qua giới thiệu của trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn, quốc gia, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) đã tiếp xúc với chủ tịch tổ chức Toyota Foundation nhằm tranh thủ tài trợ cho kế hoạch trùng tu phố cổ Hội An và công trình nghiên cứu di tích văn hoá dân tộc. Sau khi Toyota Foundation đồng ý tài trợ Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho ông Hồ Hải Học – giám đốc Sở Văn hoá Thông tin triển khai, giao nhiệm vụ cho cán bộ nghiên cứu chọn đề tài. Nội dung phải đạt: đề tài nghiên cứu phải phục vụ cho việc bảo tồn, tôn tạo, phát triển nền văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung. Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng. Cán bộ ngành Văn hoá nào tìm hiểu, nghiên cứu chọn, xây dựng đề tài là người làm chủ đề tài… trong hàng chục đề tài đã đăng ký, cuối cùng đã xem xét được các đề tài của ông Nguyễn Nhơn giám đốc Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng, ông Hồ Hải Học và Trần Kỳ Phương làm chủ đề tài “Nghiên cứu nghệ thuật, văn minh Vương quốc cổ Chăm-pa của Bảo tàng điêu khắc Chăm-pa thuộc bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng”. Riêng Trần Kỳ Phương cho rằng tiền tài trợ cho đề tài do Phương làm chủ là của riêng mình. Y tự đến Ngân hàng ngoại thương Thành phố Đà Nẵng mở tài khoản do Phương đứng tên. Theo Phương, nếu đưa tài khoản vào cơ quan mỗi lần rút tiền ra sử dụng sẽ phức tạp về thủ tục (Sở Văn hoá Thông tin và Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng đã chỉ đạo Phương phải chuyển tiền tài trợ vào tài khoản Bảo tàng nhưng Phương không chấp hành). Số tiền 89.945 USD của Toyota Foundation, Phương sử dụng không có chứng từ sổ sách, hiện chỉ còn 1.169 USD… Ngoài ra, Trần Kỳ Phương còn nhờ Dương Văn Lâm – một nông dân ở huyện Núi Thành (Quảng Nam) dẫn đi mua 20 tượng cổ về cất trong nhà riêng. Sau này phương đã làm mất 3 tượng cổ?
Trong phần trả lời trước toà, Phương luôn cho mình là đúng “tôi làm vì tình yêu của tôi đối với nghệ thuật Chăm-pa, tôi là chủ đề tài nên có quyền sử dụng tiền học bổng”(Phương tự cho đấy là tiền học bổng chứ không phải tài trợ)… phải mất cả buổi sáng Phương mới chịu nhận tội. Lời nói sau cùng của Phương là xin toà xem xét để được mau chóng tiếp tục “niềm đam mê” của mình. Vậy mà khi Hội đồng xét xử vào nghị án, tôi hỏi Phương có tiếp tục nghiên cứu nghệ thuật Chăm-pa khi ra tù, thật bất ngờ Phương trả lời “cũng không biết nữa, đất lành thì chim đậu”. Tôi biết trong hàm ý câu nói đó Phương cho mình bị oan. Cũng như toà hỏi tại sao Phương mua 20 tượng cổ mà không xin giấy phép của Bộ Văn hoá Thông tin? Phương cho rằng chủ quan định mua về để nghiên cứu cho mục đích chung chứ chẳng có ý định gì cho riêng mình.
Trước toà, Phương vẫn bình tĩnh, tự tin đối chất mạch lạc, luôn cho những việc làm của mình là đúng. Bản án sơ thẩm dành cho Phương là 10 năm rưỡi tù giam, phải nộp vào công quỹ nhà nước 558.575.000 đồng.
Điều đáng tiếc trong vụ án này, ông Hồ Hải Học giám đốc Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) và ông Nguyễn Nhơn giám đốc Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng thiếu trách nhiệm trong việc quản lý cán bộ, tuy có nhắc nhở Phương nhưng chỉ là nhắc nhở… miệng. Thật đáng tiếc cho một tài hoa, giá như Phương đừng tự cao độc lập hoạt động trong tập thể và giá như lãnh đạo có trách nhiệm kiên quyết, kịp thời thì vẫn còn đó một Trần Kỳ Phương với những khám phá cống hiến về văn hoá Chăm-pa cho miền Trung nói riêng và Việt nam nói chung.
Anh Thy – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Thêm các tour mới du lịch trên sông Hồng

Công ty vận tải Thủy Hà Nội và Xí nghiệp vận tải khách và dịch vụ Du lịch vừa mới sửa chữa nâng cấp 3 tàu du lịch Hà Nội 1, Hà Nội 3, và tàu Thăng Long, sức chứa 50 khách – 200 khách/1 tàu.
Ngoài tuyến du lịch 1 ngày trên sông Hồng với 3 tour du lịch. Giá vé 50000đ/khách Việt Nam, 100000đ/người cho khách nước ngoài. Sinh viên, học sinh đi theo đoàn 50 người giảm giá vé 20%. Công ty vận tải thủy mở thêm các tour trong tháng 6 tháng 7, đó là thứ 4,6, chủ nhật buổi tối có tour từ 19h – 21h30’. Vào đầu tháng 7, Công ty dự kiến phối hợp với Sở Du lịch Quảng Ninh mở thêm tour Du lịch Hà Nội – Quảng Ninh, giá vé dự kiến khoảng 100000đ/vé (đi khứ hồi giá rẻ hơn).
Ông Phan Mạnh Chính, Giám đốc công ty cho biết: “Sau khi đi khảo sát điểm du lịch Sông Hồng – Hà Nội – Quảng Ninh và ngược lại, tháng 7 này, Công ty vận tải thủy mở thêm tour mới đường dài, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của học sinh, sinh viên, trong dịp hè, và mùa thu – mùa du lịch của khách nước ngoài”.
Khi đi du lịch bạn có thể đặt tiệc Cocktail giá 6-7 USD/người hoặc các bữa ăn 25000đ/bữa, 30000đ/bữa có nước giải khát.
Túi thuốc dùng cho những chuyến du lịch xa
Để có được những chuyến du lịch lý thú, thoải mái nhất là không vướng bận về vấn đề sức khỏe của bản thân, bạn cần tham khảo ý kiến với bác sĩ trước chuyến đi. Người sẽ cho bạn những lời khuyên thực tế và nhắc nhở bạn phải tiêm chủng ngừa và tùy theo nơi bạn đến, túi thuốc du lịch bạn sẽ mang theo cần nên có:
-Các loại thuốc chống sốt rét (Nivaquine, Lariam)
-Các thuốc viên tiệt trùng để diệt khuẩn trong nước (Hydro-clonazone)
-Một loại thuốc viên trị đường ruột (Spasfon)
-Một lọ thuốc tra mắt khử trùng (Dacryne)
-Một loại thuốc chống dị ứng trong trường hợp bị côn trùng đốt hay gặp các vấn đề dị ứng (Primalan)
-Một vài ống tiêm và kim dùng một lần.
Bác sĩ sẽ hướng dẫn liều lượng và lưu ý bạn khi sử dụng các loại thuốc này. Chúc bạn một chuyến du lịch hè an toàn, lý thú và tốt đẹp.
Lương Chí Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Liên hoan bình chọn thời trang – người đẹp Đông Nam Á và thế giới

Vừa qua, Bộ văn hóa – Thông tin đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo hoạt động “Liên hoan bình chọn thời trang người đẹp Đông Nam Á và Thế giới” được tổ chức tại Việt Nam từ 10-20/11/1999. Ban chỉ đạo do ông Nguyễn Trung Kiên, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin làm trưởng ban, ông Đào Duy Quát – Phó Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa, ông Phạm Từ – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Trần Quốc Trị – Tổng Thư ký Hội khoa học Đông Nam Á… làm ủy viên.
Tại cuộc Liên hoan này sẽ có hơn 30 hoa hậu, á hậu 1 của Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Braxin, Canada, Ấn Độ, Thụy Sĩ, Đài Loan, Singapore, Malaysia cùng các hoa hậu Việt Nam. Cuộc thi sẽ lựa chọn 3 người đẹp Việt Nam, Hoa hậu Du lịch Việt Nam.
Triển lãm ảnh trẻ “Tôi một tuổi”
Câu lạc bộ nhiếp ảnh Thanh niên Hà Nội đã kỷ niệm sinh nhật một cách đầy ý nghĩa bằng triển lãm ảnh “Tôi một tuổi” khai mạc tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ngày 6/9 vừa qua.
Dưới sự dìu dắt tận tình của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trọng Thanh – người thầy – chủ nhiệm danh dự của câu lạc bộ, 24 thành viên, trong đó nhiều người trước đây chưa hề cầm máy, đã từng bước khẳng định mình. Từ triển lãm ảnh ra mắt “Hà Nội của tôi” đến “Tôi một tuổi”, người xem nhận thấy các “tay máy” để chững chạc, tự tin hơn nhiều. 24 gương mặt non trẻ với nhiều ngành nghề, công việc khác nhau nhưng đều có chung một niềm đam mê – đó là nghệ thuật nhiếp ảnh. Triển lãm giới thiệu 60 bức ảnh phong cảnh và chân dung ghi lại những hình ảnh, những con người ở nhiều miền đất như Sa Pa, Mai Châu, Bắc Ninh, Hạ Long, Hội An… Tất cả đều toát lên sự trong trẻo, yêu đời nhưng cũng ẩn chứa cái nhìn suy tư, sâu lắng của những người trưởng thành trong thời kỳ đổi mới. Người xem cảm nhận được vẻ tươi tắn, nguyên sơ của mùa xuân vùng cao từ những cánh đào phớt hồng, gương mặt rạng ngời của thiếu nữ người dân tộc trong ảnh Đặng Hào; cảnh đẹp hùng vĩ đầy sức lôi cuốn của thiên nhiên Sa Pa trong bức “Thác Bạc” của Mạnh Cường nhưng cũng trầm tư trước “lặng” của Trà My – một con thuyền lẻ loi nổi bật trên nền xanh thẳm của dòng sông như một dấu chấm than lớn. Vọng Ngàn với bức ảnh đen trắng “Hà Nội của tôi” đã trả lại cho Tháp Rùa – Hồ Gươm vẻ rêu phong, cổ kính ngày xưa. Một vài bức ảnh thu hút người xem bởi góc nhìn và cách sắp xếp khá độc đáo của tác giả như “Bố cục” của Vũ Linh hay “Ráng chiều” của Quốc Tuấn…
Hy vọng, câu lạc bộ Nhiếp ảnh Thanh niên Hà Nội sẽ kết nạp thêm được nhiều thành viên mới và tiếp tục khẳng định mình trên con đường nghệ thuật nhiều chông gai và thử thách này.
Phượng Ngọc – Tuần Du Lịch – Số 38(90) Từ 20-27/9/1999

Cảng chân mây

Cảng biển Chân Mây nằm trong địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế thuộc miền Trung Việt Nam, cách thành phố Huế 55 km về phía Nam và cách thành phố Đà Nẵng 30 km về phía Bắc. Đèo Hải Vân ở phía Bắc là hàng rào thiên nhiên giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam – Vịnh Chân Máy cách đường quốc lộ 1A, đường sắt quốc gia Việt Nam, cũng như đường dây điện 500 kv nối Chân Mây với hệ thống lưới điện Quốc gia 7 km – Chân Mây cách sân bay Quốc tế Đà Nẵng 30 km về phía Bắc và sân bay Phú Bài 40 km về phía Nam. Vị trí Chân Mây cách Hà Nội 700 km về phía Nam, cách biên giới Lao Bảo nối liền Việt Nam với tỉnh Savannakhet của Lào 200 km, và cách Mục Đa Hản, Thái Lan 450 km, đây là Cảng biển nước sâu gần cả Lào và Đông Bắc Thái Lan nhất.
Khu vực chưa được phát triển hiện nay của Chân Mây có 10.000 ha đất ruộng được rừng Quốc gia bao quanh 3 phía. Đất bị các đầm nén cho nên không mấy thích hợp với việc phát triển nông nghiệp và đã được xem như là vị trí Cảng biển kể từ năm 1992. Dân số hiện có ít, khoảng 5.000 đến 10.000 người. Kể từ năm 1992 không có giấy phép xây dựng nào được ban hành. Do vậy vùng đất này đang được Chính phủ dành cho sự phát triển.
Năm 1996 Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã hợp pháp hóa Chân Mây, ông đã phê duyệt qui hoạch tổng thể và 1 năm sau đó lễ động thổ đã được tổ chức để xây dựng con đường nối Cảng biển Chân Mây với Quốc lộ 1A.
Trong điều kiện có Đê chắn sóng dài 1,8 km ở độ sâu 13 mét về phía Bắc Chân Mây đông, tổng chiều dài bến cảng có thể đạt 10 km, tàu 50.000 – 70.000 tấn có thể cập bến, công suất của Cảng có thể đạt đến 40 triệu tấn/năm. Hệ thống liên lạc nối trực tiếp từ đường cáp quang điện thoại và Viba Quốc gia chỉ 5 km, cung cấp điện trực tiếp từ lưới điện Quốc gia 110 km kéo đến cách Cảng không quá 5 km và 500 kv từ đường 500 kv từ trạm Cầu Đỏ (Đà Nẵng) hoặc kéo trực tiếp đường dây 500 kv đến Cảng không quá 9 km bằng trạm hạ thế tại chỗ.
Nguồn cung cấp nước lấy từ Hồ Thủy Cam và Thủy Yên cách cảng 12,5 km với lưu lượng 115.776 m3/ ngày đủ cho khu công nghiệp dân cư đô thị hoạt động.
Càng biển nước sâu, Khu Công nghiệp và Thương mại Thành phố Du lịch Chân Mây sẽ là một trong những nhân tố góp phần quan trọng nêu lên sự cần thiết phục hồi và phát triển xây dựng khu Du lịch Bạch Mã, trong mối quan hệ chặt chẽ với Cố đô Huế. Cảng biển nước sâu và Khu Công nghiệp Thương mại Chân Mây sẽ đóng vai trò tích cực, tăng tiềm lực một cách đáng kể cho khu kinh tế trọng điểm miền Trung và đóng vai trò quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của Bắc Trung Bộ cũng như tiểu khu vực.
Sự ra đời của Cảng biển nước sâu và khu Công nghiệp Chân Mây là một nhân tố cần thiết góp phần tích cực vào việc mở rộng, củng cố phát triển khu Kinh tế trọng điểm miền Trung. Hệ thống cảng biển nước sâu từ Chân Mây đến Dung Quất sẽ dẫn đến sự hình thành một tổ hợp Cảng có công suất vận chuyển hết sức tổ chức lớn và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của cả nước Việt Nam với trên 70 triệu dân trong giai đoạn cất cánh vào thế kỷ 21.
Để phát triển nền kinh tế ở miền Trung, Chính phủ cần phải khởi đầu chính sách ưu đãi bằng một kế hoạch phát triển tổng thể ở khu vực. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã được thực hiện, đặc biệt là qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế cho khu vực miền Trung của Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JI CA). Kế hoạch này đã vạch ra một loại những sự phát triển Công nghiệp thương mại tự do, tập hợp xung quanh một hệ thống các Cảng biển – Dung Quất sẽ hoạt động như một khu công nghiệp nặng và lọc hóa dầu, Cảng Đà Nẵng sẽ là một bộ phận trong sự phát triển của Đà Nẵng cùng miền Trung và Cảng biển Chân Mây sẽ được phát triển như là một cảng biển trung chuyển quốc tế.
Nguyễn Đắc Bình-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Những lá thư tình của Nguyễn Bính

Nguyễn Bính, một nhà thờ nổi tiếng trong các nhà thơ trào phúng, trữ tình, lãng mạn… Khi đã về già đi đâu ông cũng cặp kè chiếc hộp sắt tây trông rất lạ mắt! Nhưng sự thật đó chỉ là chiếc hộp bánh “bích qui”. Những lúc buồn tẻ hoặc sau những giờ “trà dư tửu hậu”. Ông thường mở hộp xếp lại các thứ trong đó. Khó ai mà đoán biết được ổng để tài sản trong chiếc hộp kia!
Thật ra nó cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ có nhiều tờ giấy với nhiều mảnh rời, tỏ nhỏ, tờ to nhiều kích cỡ, nhiều màu sắc… toàn là thư tình của các bà, các cô từ khắp nơi trong nước gửi cho nhà thơ. Có những lá thư còn tưởng chừng như đầm đìa nước mắt của một cô hàng nước nào đó lắm mơ nhiều mọng để rồi phải “lỡ bước sang ngang” không kịp gặp lại bạn tình!… Có cả phong bì đựng cả nhúm tóc thề của một nữ sinh tuổi vừa đôi tám… cùng với những lá thư tình là hàng loạt bài thơ của các cô nàng mới viết vội!
Nói đến thơ Nguyễn Bính, người ta thường mắt đến một nét đặc thù riêng của ông là chiều sâu tâm hồn đối với thân phận của những người phụ nữ, nên ông được rất nhiều phụ nữ mến mộ và điều ấy kể ra cũng không có gì lạ. Bởi lẽ ông lại là một người tài hoa, phiêu lãng nên hồn thơ của ông hình như lúc nào cũng chinh phục được đa số nhịp đập trái tim của “phái đẹp” thời bấy giờ.
Rõ ràng họ đã cảm, đã yêu, muốn cộng hưởng nên mới viết thư cho ông và thề non hẹ biển cùng ông… Nhưng cũng chỉ đến ngần ấy là cùng, vì đã mấy ai lại muốn ủy thác đời mình cho một nhà thơ tài danh mà kiếp đời mãi nổi trôi, nghèo nàn, lang bạt!… Nhưng trong số hàng trăm mối tình “trời trăng mây nước” ấy, lại có những tình yêu đích thực, đầy xúc động và có lúc tưởng chừng đã làm chạnh lòng thi sĩ. Nhưng vẫn không thành hiện thực bởi chưa bao giờ và cũng không bao giờ Nguyễn Bính có đủ tiền để lo bề gia thất.
Châu Ngọc làm sao hái được nhiều
Tôi là thi sĩ của thương yêu
Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng?
Với những mâm xôi phủ lụa điều?
(Một thời quan tải)
…Và rồi cuối cùng chiếc hộp sắt đựng bánh ngọt “quái ác” ấy đã trở thành cái quan tài nghìn thu chôn cất biết bao chứng tích của những mối tình suốt một thời trai trẻ. Những mối tình mà ít nhiều đã để lại dư vị đắng cay trong hồn thơ… trong cuộc đời của Nguyễn Bính.
Chao ôi! ba bốn tao ân ái
Cũng đủ tan tành một kiếp trai.
(Giời mưa ở Huế)
…Nhưng cuộc đời của nhà thơ đâu phải chỉ có ba bốn tao ân ái!…
Nhiêu Huyền – Tuần Du lịch – Số 38(90) – 20 -27/9/1999

10 suối nóng nổi tiếng ở Đài Loan

Du lịch Đài Loan thú vị nhất là tham quan và tắm suối nóng, vừa được chiêm ngưỡng phong cảnh đẹp vừa được dưỡng sức khỏe qua việc tắm suối nóng tự nhiên. Xin giới thiệu 10 suối nóng ở Đài Loan:
Suối nóng Dương Minh Sơn: Ở phía Bắc thành phố Đài Bắc đã được Chính phủ đầu tư thành khu du lịch và điều dưỡng với các phương tiện và cơ sở vật chất hiện đại như: Trung Quốc đại khách sạn, Tổng hội du lịch quốc tế, Nông trang nhật – nguyệt, Làng nghệ thuật Hoa… dọc suối có các khu tắm điều dưỡng cao cấp, khu tắm điều dưỡng cao cấp, khu tắm phục cổ đại, khu tắm phổ thông. Ngoài ra con có thể tham quan công viên quốc gia cũng ở bên cạnh Dương Minh Sơn.
Suối nóng Cốc- Quan: ở Đài Trung, tại đây có vườn thiên nhiên, khu tắm suối lộ thiên dùng cho người lớn và thiếu nhi; từ đây còn có thể đi sâu vào tham quan vùng rừng sâu nguyên thủy. Có thể nói ở Cốc Quan là “Tam dục nhất thể”, phối hợp hài hòa, ở đây nổi tiếng với khách sạn Long – Cốc, nhà sàn Hoàng Gia, nhà triển lãm kỹ nghệ dân tộc.
Suối nóng Ô-Lai: ở vào vị trí phía Nam thành phố Đài Bắc thuộc huyện Đài Bắc. Đường cao tốc dẫn tới Ô Lai ôn tuyền, ở đây nổi tiếng là “thế giới nước” chia ra từng khu vực bể tắm nam nữ riêng biệt, khách vào thú vị nhất là “thoát y vũ” 100%. Nơi nghỉ thì có “Cự Long sơn trang”, từ đây có thể đi tới tậu đầu nguồn suối nóng.
Suối nóng Lư Sơn: Nằm ở trung tâm Đài – Trung. Đặc biệt nổi bật là ở Lư Sơn vừa được tắm suối nóng lại vừa được tắm suối nóng lại vừa được đi thưởng thức tuyết lạnh. Vào mùa xuân ở đây hoa đào nhiều vô kể hồng cả một vùng. Nơi nghỉ nổi tiếng là Khách sạn Trăng mật, Đại khách sạn Lư Sơn thiên lư, Đại khách sạn Bích Lục, khách sạn nào cũng có bể tắm suối nóng tự nhiên.
Suối nóng Đông Phổ: Nằm ở phía Nam Đài Trung tiếp với bắc Đài Nam. Nổi tiếng ở đây ngoài suối nóng ra còn có hoa Anh đào và cảnh tuyết của quần thể đỉnh núi Ngọc Sơn. Trong các khách sạn lớn ở đây như: Khách sạn Đế Luận, Nhà sàn Trân-Hòa-Viên, nông trường Sa-Lý-Tiên… ở đâu cũng có bể tắm nóng và nơi điều dưỡng sức khỏe bằng nước nóng.
Suối nóng Bảo Lai: Nằm ở phía Bắc Đài Nam. Ngoài Bảo Lai còn có các nhánh nhỏ suối nóng gọi là “tiểu vệ tinh ôn tuyền”, cheo leo đi qua cầu treo là vào nơi suối nóng. Đặc điểm những nơi nghỉ ngơi và tắm nóng ở đây với những cấu trúc dân dã, thậm chí hoang dã.
Suối nóng Tiêu Khê: Nằm ở phía Đông của Đài Bắc, gần biển, giao thông ở đây thuận tiện. Ở đây các nơi nghỉ đều có bố trí phòng tắm nước nóng tự nhiên, có cả nơi tắm thoát y, đặc biệt nơi tắm rất rộng gọi là “dục đường” như: Dục đường ôn tuyền công cộng Nhân ái lộ, Tảo đường công cộng Ngọc thạch lộ… có cả hồ tắm lộ thiên dân quản, nam nữ có thể tắm lẫn lộn.
Suối nóng Thụy Huệ & Hồng Diệp: Nằm ở phía Đông Đài Trung, hai dòng suối nóng này gặp nhau hợp một, ở đây được mệnh danh là “cội nguồn của ngoài thế giới tắm suối nóng”. Đặc biệt chất nước nóng ở đây có đặc tính cá biệt, chảy ra từ lòng đất sâu, trong suốt, sau một thời gian lộ thiên dần ngả sang hồng, mặt trước có một lớp bọt do muối tạo thành, tục truyền là tắm ở đây sinh con trai.
Suối nóng Tri Bản: ở phía Đông Đài Nam, đặc điểm là vừa có suối nóng ừa là nơi thắng cảnh. Các cơ sở vật chất và khách sạn ở đây quy mô nhất Đài Loan như: Đại khách sạn Lão gia Tri Bản, Đại khách sạn Hồng Tuyền, Đại khách sạn Đông Đài… Có thể đến đây bằng máy bay trực thăng hoặc tàu thủy, ở đây có cả rừng sâu, thác nước Bạch Ngọc, vườn quả quốc gia Lạc Sơn…
Suối nóng Kim Luân: ở phía Đông Nam Đài Trung. Đây là điểm du khách trên lộ trình đi Đài Trung phải qua đây và có thể dừng tắm nghỉ ở những nơi rất bí mật. Nơi đây có chỗ là cầu treo, có chỗ là vực núi, có chỗ suối chảy xiết ào ào như sóng biển. Suối nóng Kim Luân được Chính phủ Đài Loan lấy làm 1 trọng điểm trong “năm tham quan suối nóng” ở Đài Loan.
Đoàn Như Trác – Tuần Du lịch – 1999

Đà Lạt “7 tháng đón 221.835 lượt khách du lịch’

Tính đến ngày 20/7/1999, TP Đà Lạt, Lâm Đồng đã đón 221.835 lượt khách du lịch đến tham quan và nghỉ dưỡng. Trong số này có 29.105 lượt khách quốc tế (tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái). Số ngày khách lưu trú ở Đà Lạt 1,95 ngày/ lượt khách, tổng doanh thu du lịch – dịch vụ ước đạt 167 tỷ đồng.
Hiện tại Đà Lạt đang khẩn trương đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thêm các sản phẩm du lịch, hoàn thiện việc nâng cấp một số đường phố, khách sạn, nhà hàng và thắng cảnh: hồ Xuân Hương, thác Prenn, hồ Than Thở, Thung lũng Tình yêu, Chợ Đà Lạt, Sân golf, công viên Hoa… nhằm thu hút khách đến Đà Lạt ngày càng tăng và chuẩn bị thực hiện chương trình du lịch Quốc gia năm 2000.
Cần coi báo ngành như một hành trang nghề nghiệp
Hà Nội, ngày 26 tháng 7 năm 1999
Kính gửi Ban Biên tập báo Tuần Du Lịch !
Đồng kính gửi Ông giám đốc Sở Du lịch Hà Nội !
Tên tôi là Trần Mạnh Trường sinh viên lớp DL 2541 – QTDL – ĐHDL Đông Đô. Trong thời gian vừa qua tôi có đi khảo sát khoảng hơn 30 công ty Du lịch (công ty lữ hành, văn phòng du lịch, công ty vận tải khách…) và một số các khách sạn lớn nhỏ ở tại thành phố Hà Nội lấy tư liệu để chuẩn bị cho luận văn tốt nghiệp. Tôi đã phát hiện thấy một điều rất ngạc nhiên là cho tới nay mặc dù báo Tuần Du Lịch đã ra đời được một năm rưỡi rồi, mà rất nhiều công ty Du lịch, các khách sạn vẫn chưa mua hoặc thậm chí còn chưa biết tới tờ báo này. Chỉ một số công ty lớn có tiếng như CTDLVN tại Hà Nội, CTDL Hà Nội… mới thường xuyên mua báo cho nhân viên và phục vụ cho doanh nghiệp mình. Còn lại một số công ty như công ty TM-DL Thanh Niên tại Hà Nội, CTDVDL Hồ Gươm, CTDVDL Đường Sắt Sài Gòn… đều không thường xuyên hoặc không mua báo này. Thậm chí khi tôi tới văn phòng du lịch tại 284 Kim Mã thì được trả lời là “không biết, không cần biết” đến tờ báo của ngành.
Báo Tuần Du Lịch là cơ quan ngôn luận của Tổng cục Du lịch thế mà ngay tại thủ đô Hà Nội, các văn phòng du lịch, các công ty du lịch, các khách sạn đều không mua và không đọc báo này. Thử hỏi rằng họ hưởng ứng ra sao trước các chương trình hành độc quốc gia về du lịch cũng như việc tăng cường công tác tiếp thị và quảng bá? Trong khi đây lại là tờ báo ngành mang đầy đủ những thông tin du lịch trong nước, quốc tế, có tính thời sự và rất hiệu quả trong việc giới thiệu quảng bá các tuyến điểm du lịch cũng như việc bồi dưỡng nghề nghiệp, tạo cơ hội cho việc kinh doanh và phát triển du lịch.
Phải chăng để tạo điều kiện cho các chương trình quảng bá của ngành đạt hiệu quả, các doanh nghiệp du lịch đang kinh doanh cần phải quan tâm tới công tác quảng bá tiếp thị du lịch, trong đó cần coi việc mua và đọc báo ngành là một yêu cầu không thể thiếu. Thiết nghĩ, với vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn thủ đô, ông Giám đốc sở Du lịch Hà Nội cũng nên có biện pháp nhắc nhở các đơn vị kinh doanh Du lịch cần đọc và tuyên truyền tờ báo của ngành trong cán bộ, công nhân viên và coi đây là một trong những biện pháp để bồi dưỡng nghề nghiệp, nâng cao nhận thức và trình độ cho những ai làm công tác du lịch.
Kính thư !
Trần Mạnh Trường -Tuần Du lịch – 1999

Cổ đô – làng của những bất ngờ

Cổ đô là một làng Việt Cổ, đất văn vật, có lịch sử lâu đời. Những rìu đồng thời Đông Sơn cách ngày nay chừng 2300 năm, được khai quật ở vùng đất này là một minh chứng về trình độ văn minh cao của tổ tiên chúng ta, tương ứng với nền văn minh và lịch sử văn hóa của loài người.
Ở bên này bờ sông Hồng, đối diện với thành phố Việt Trì, Cổ Đô xưa kia thuộc Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì Hà Tây). Cổ Đô là vùng đất nằm kề đất tổ Phong Châu, kinh đô xưa của các vua Hùng. Lạ lùng thay, ở một vùng đất ven sông nhỏ bé khuất nảo, lại tụ hội quá nhiều di tích, sự tích và nhiều chuyện bất ngờ. Nói bao nhiêu cũng không hết. Vĩ như Cổ Đô xưa vừa là đất khoa bảng với các văn nhân kì tài xuất chúng (Tiến sĩ Nguyễn Sư Mạnh, tiến sĩ Nguyễn Bá Lân…) lại là đất các võ tướng anh hùng (Vũ Danh Minh, dòng họ Nguyễn Thông mấy đời làm tướng…) nay Cổ Đô vừa là “làng họa sĩ”, “làng thi sĩ” vừa là xã anh hùng…
Rẽ vào ngõ nhỏ, định hỏi thăm đường vào nhà họa sĩ Tốt, giật mình khi nhìn thấy bức hoành phi, đã phôi phai bởi thời gian, treo trong căn nhà thờ cổ, nét chữ của một tuyệt bút: “Lưỡng Quốc thương thư”. Hỏi chuyện ông Nguyễn Văn Lũng 46 tuổi, hậu duệ đời thứ 18 của Đệ nhị giáp Tiến sĩ, Hàn lâm viện trưởng Đông các loại học sĩ, Lễ bộ thượng thư Nguyễn Sư Mạnh, ông cho biết đền thờ họ Nguyễn này được xây dựng từ năm 1756. Trong đền thờ có khá nhiều câu đối, tôi chú ý đến hai câu.
Vì cực nhân thần thiên hạ hữu
Thượng thư lưỡng quốc thế gian vô
(đại ý: Làm quan đến cực phẩm (triều đình) thiên hạ có
Làm quan thượng thư hai nước thế gian không
Câu đối nhắc đến sự tích khi ông được Vua Lê Thánh Tông cử sang sứ nhà Minh. Vào chầu lỡ tuột cúc áo, hở bụng, vua Minh cả giận, ông nhanh trí tâu: do đi đường quá xa, chữ trong bụng ẩm ướt, gặp trời nắng nên mờ cúc áo để hong cho khô, chứ không dám “khi quân phạm thượng”. Vua Minh thử tài trí ông bằng nhiều cách lắt léo, ông vượt qua cuộc “khảo hạch” một cách vinh quang.
Cổ Đô là đất học, giai thoại về cha con tiến sĩ Nguyễn Bá Lân nhiều người biết đến. Cha Nguyễn Bá Lân là Nguyễn Công Hoàn một người hay chữ có tiếng trong kinh ngoài trấn, ông là một trong “Tràng An tứ hổ” (thời Lê, Trịnh) “nhất Quỳnh nhì Nham, tam Hoàn tứ Tuấn”.
Nguyễn Bá Lân chỉ học một thầy, đó là cha mình, cậu bé thần đồng của Cổ Đô ấy sau đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Hợi, niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731). Trong cuộc đời làm quan, ông đã từng làm thượng thư, bộ Công, bộ Lễ, bộ Hộ… hàm Thiếu bảo, bậc Ngũ Lão Hầu Chúa. Nguyễn Bá Lân là tác giả của bài “Ngã ba Hạc phú”, một bài Hán – Nôm nổi tiếng trong lịch sử văn chương thế kỉ XVI – XVII… Xin gợi lại một chút cảm nhận đa tình của người nghệ sĩ.
“Ba góc bờ tre văng vẳng, huyệt Qui Kim chênh hèm đá gập ghềnh.
Một chòm bãi cỏ phơ phơ, hang Anh Vũ thấu lòng sông huyếch hoác”
Ông Nguyễn Xuân Vân, cháu đời thứ 19 của Nguyễn Bá Lân, hiện giữ cuốn gia phả do chính Nguyễn Bá Lân và con trai là Nguyễn Bá Uông soạn, có nhiều chi tiết lịch sử khá lí thú.
Cổ Đô không những là đất văn còn là đất võ. Cổ Đô có Vũ Danh Minh một dũng tướng đời Trần là người có tài theo lược, đền miếu sử sách còn ghi công đức của ông. Gia phả dòng họ kinh lược sứ Nguyễn Thông cho ta biết một dòng họ nhiều đời võ tướng được vua ban tước bá tước hầu.
Cổ Đô ngày nay nổi lên là làng họa sĩ với thị trường tranh khá sôi động. Vọt xe trên đê qua làng quê Việt Nam khác. Ấy thế mà lại có sức hấp dẫn với các vị khách nước ngoài. Các vị đó từ tham tán sứ quán Italia, đến các nhà sưu tập Pháp, Mĩ, Hà Lan, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ… vượt qua bao ổ gà ổ trâu bụi đường để đến với làng tranh này. Mà cũng đúng thôi, ở đây có tranh đẹp của các họa sĩ nổi tiếng giá cả lại hợp với sức mua của người sưu tập tranh. Ít thấy một làng nhỏ lại hội tụ nhiều họa sĩ là hội viên của Hội mĩ thuật Việt Nam đến như vậy: Sĩ Tốt, Trần Hòa, Ngọc Thiết.
Các họa sĩ sống ở làng giản dị, dân dã, tôi có cảm giác đó là người nông dân họa sĩ, người lính họa sĩ mặc dù biết rằng mấy anh đều đã tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật…
Cuộc sống nơi thôn dã, phơi lúa, băm bèo cấy giặt không xa lạ với các anh. Dòng sông con đò cây đa bến nước gần gũi với các anh, máu thịt với các anh. Và đó cũng chính là một mảng đề tài rất sinh động mà các anh thường biểu hiện. Ba loại tranh bán được cho người nước ngoài là: tranh thuốc nước (vẽ trên lụa, giấy Dó), tranh sơn dầu, tranh bột mầu (hội họa, đồ họa). Tranh của họa sĩ Sĩ Tốt (80 tuổi) giá thường là 800-1000 USD, Trần Hòa 500-700 USD bình thường cũng khoảng 50-100 USD (anh có trên 1000 bức). Họa sĩ La Vuông (1959) hiện có khoảng 300 tác phẩm. Từ 1994 đến nay bán được 100 tranh cho người nước ngoài. Tranh của anh tinh tế, trong trẻo đằm thắm và rất “sâu” nên đã tham dự triễn lãm quốc gia và quốc tế một số bức được lưu giữ trong bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam, trong nhiều sưu tập cá nhân (Mĩ, Hà Lan…) Tham tán Sứ quán I-ta-li-a Lu-xi-a Gio-ri viết: Từ nước Ý xa xôi tôi sang công tác tại Việt Nam, hội họa Việt Nam làm tôi say mê ngay từ những ngày đầu tiên. Tôi đặc biệt thích phong cách Việt Nam làm tôi say mê ngay từ những ngày đầu tiên. Tôi đặc biệt thích phong cách của 2 họa sĩ làng Cổ Đô: Sĩ Tốt, Trần Hòa. Bộ sưu tập tranh của tôi gồm nhiều tác phẩm của hai họa sĩ này”.
Cổ Đô – vùng quê cổ kính văn hiến bình dị, mang đậm nét văn hóa vùng sẽ còn cho chúng ta biết nhiều điều bất ngờ thú vị nữa!.
Nguyễn Trung Sơn – Tuần du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999