Định hướng chiến lược – Phần 1

Du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên, định hướng chiến lược trong thế kỷ mới.
Với 107 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2381.791 ha, trong đó có 12 vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa, lịch sử nên Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển du lịch sinh thái. Sự định hình và khởi sắc của du lịch sinh thái ở các địa phương trong thời gian qua là cơ sở và nền tảng để ngành du lịch Việt Nam hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên một cách ổn định và bền vững.
Bức tranh sơ khai
Hệ sinh thái ở Việt nam bao gồm 5 loại điển hình: Hệ san hô, vùng cát ven biển, vùng đất ngập nước, rừng khô hạn và rừng ngập mặn.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và 255 loài ở vùng biển phái Nam. Bên cạnh đó có 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập nước ẩn chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á. Hệ thống rừng đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học với 12.000 loài thực vật (1.200 loài đặc hữu). 15.575 loài động vật (172 loài đặc hữu). Với tiềm năng phong phú và đa dạng nên ngay từ thời gian đầu của quá trình đổi mới đất nước, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam đã được coi trọng. Nếu như năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn lượt khách quốc tế đến các vùng tự nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số tương ứng đã lên đến 620 ngàn và dự ước 1 triệu lượt khách cho cả năm 2000. Bên cạnh đó hàng năm cũng có thêm 3,5 đến 5 triệu lượt khách nội địa ghé vào các vùng tự nhiên. Nhờ vậy doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhieencungx như vùng đệm hiện chiếm khoảng 25 – 30% trong tổng số doanh thu hàng năm của ngành du lịch.
Đánh giá của ông Doug Hendrie Cố vấn trưởng kỹ thuật dự án bảo tồn rừng Cúc Phương, bức tranh du lịch sinh thái của Việt Nam mới ở mức sơ khai, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có về sự đa dạng và phong phú của nó cũng như vị trí của du lịch sịnh thái hiện nay trong khu vực và trên thế giới. Các nguyên nhân cơ bản hạn chế sự phát triển của du lịch sinh thái Việt Nam cũng giống nhiều nước trong giai đoạn đầu của sự mở cửa và hội nhập gồm: thiếu năng lực nghiên cứu quản lý, chưa thống nhất hệ thống điều hành các khu bảo tồn, hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu và chưa đồng bộ…
Diện mạo mới
Du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý kinh doanh không chỉ đối với Việt Nam mà cho tất cả các nước khác trong giai đoạn mở cửa và hội nhập. Chính vì lẽ đó hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều tra cơ bản quy hoạch những vùng tiềm năng như Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phương, Nam Cát Tiên, Yok Đôn, Côn Đảo, Bình Châu – Phước Bửu…
Bùi Hoàng Anh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đã đến lúc phải giảm giá vé xem ca nhạc

Trong một cuộc “họp kín” của giới tổ chức biểu diễn ca nhạc (thường gọi là “ông bầu”) ở phía Bắc, vấn đề giảm giá vé xem ca nhạc cho khán giả (thông qua vấn đề: Điều tiết các hoạt động biểu diễn; Thành lập Hiệp hội các nhà tổ chức biểu diễn; Giảm catse ca sĩ) được bàn cãi, tranh luận khá nhiều. Bởi giảm giá vé là yêu cầu, đòi hỏi của người xem, xong không đơn giản nói giảm là giảm, bởi điều này có liên quan, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mắt xích khác trong hoạt động tổ chức biểu diễn ca nhạc.
Theo các ông bầu, chỉ có thể giảm giá vé nếu catse ca sĩ giảm. Bởi catse quá cao đã khiến việc “kinh doanh” của ông bầu không có hiệu quả (chi phí cho catse chiếm 1/2, đôi khi 2/3 tổng doanh thu), buộc họ phải xoay qua lấy tiền khán giả bằng việc nâng giá vé. Có nghĩa là, giá vé xem ca nhạc của khán giả phụ thuộc vào catse của ca sĩ và nếu giảm được catse thì giá vé sẽ hạ. Các ông bầu cũng đưa ra vấn đề cụ thể giảm catse và đã nhận được những ý kiến khác nhau từ phía ca sĩ: nào là “cơ chế thị trường, ai có tiền người đó được xem” rồi nào là “có thể giảm catse nhưng phụ thuộc vào chương trình: chương trình kinh doanh một “giá”, từ thiện “giá” khác hoặc “nhiều khi ông bầu bảo lấy giá catse thấp vì vé họ bán ra thấp, chúng tôi đồng ý. Nhưng đến khi biểu diễn mới biết vé bán rất cao. Vậy là họ đã “lừa” chúng tôi, ăn lãi quá nhiều”…. Bởi thế, cho chắc ăn, các ca sĩ đã không cần biết giá vé như thế nào, bán hết được hay không, cứ đòi catse cao. Các ông bầu đã bị “quả báo” cho hành những hành động của họ nhưng kéo theo đó, khán giả bị liên quan, chịu giá vé cao. Vậy là từ thái độ “không giảm catse” của các ca sĩ, hy vọng về giảm giá vé cho khán giả trở nên rất “mong manh”: “Ngoài ra, liên quan đến giá vé xem ca nhạc còn có các yếu tố khác như: giá thuê địa điểm, tiền thuê ban nhạc, phối khí….Giá thuê địa điểm, từ tháng 7 sẽ được tính “mềm” hơn ở cung Văn hóa Hữu Nghị và nhà hát Lớn (ở cung Văn Hóa Hữu Nghị là 25% tổng doanh thu, đảm bảo là thuận lợi cho các ông bầu trong trường hợp rủi ro hay không bán hết vé), khác với trước đây có giá thuê cố định khiến các ông bầu rất dễ lố nếu gặp ”sự cố”.
Còn Nhà hát Lớn lại theo thỏa thuận, tùy chương trình phục vụ chính trị, làm từ thiện hay kinh doanh….Nhưng yếu tố cũng chỉ là một phần nhỏ trong việc giảm giá vé, không có tính quyết định. Tuy nhiên, cũng là đáng mừng khi giảm được khoản nào hay khoản nấy.
Thực tế cuộc sống hiện nay cho thấy việc giảm giá vé xem ca nhạc là rất cần thiết vì người dân có quyền được hưởng các sản phẩm Văn hóa của xã hội. Với mức giá như hiện nay 80.000 – 100.000 – 120.000 đồng, rất nhiều khán giả không có khả năng đến rạp vì bỏ tiền mua vé là đứt mất nửa tháng lương (với mức thu nhập bình thường của mọi người là 400.000 đồng). Theo tính toán của các ông bầu, họ sẽ cố gắng tiết chế để giá vé chỉ từ 40 – 70.000đồng/vé (tất nhiên là khi catse ca sĩ giảm). Với mức này, dù vẫn khá cao song phần nào sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận khán giả đến rạp. Song quan trọng nhất, không lệ thuộc vào có giảm catse ca sĩ hay giá thuê địa điểm….. là sự can thiệp của các cơ quan chức năng. Theo nguồn tin từ Cục Nghệ thuật biểu diễn, từ này Cục đang xét xét để có các hướng giải quyết, giúp “một tay” vào việc giảm giá vé ca nhạc. Vậy là việc giảm giá vé chưa thể thực hiện ngay song nó đã hứa hẹn vào một ngày không xa.
Ngọc Huyền – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Quầy bar kiểu hang động

Trong ảnh là một quầy bar rất đặc biệt và ngộ nghĩnh trong một khách sạn ở thủ đô Băng Kốc – Thái Lan. Trên tường của quầy bar này là các ngõ ngách nhỏ được chiếu sáng bằng các loại đèn màu. Phía trên trần của quầy bar này là những nhũ đá nhân tạo trông rất giống nhũ đá thật. Khách hàng đến đây uống rượu, bia hoặc ăn cooktail đều có cảm giác như mình đang đứng hay ngồi trong một hang động thật sự. Quầy bar này cũng tạo không khí mát mẻ cho khách hàng cho nên các loại đồ uống ở đây cũng có thể không cần ướp lạnh. Chính vì vậy mà quầy bar này rất hấp dẫn khách hàng sành điệu.
Nguyễn Trãi ở Đông Quan vở Opera Việt Nam sắp ra lò
Sau các vở nhạc kịch như “Bên bờ Krông – pa” của nghệ sĩ Nhật Lai, “Cô sao”, “Người tạc tượng”.. của cố nghệ sĩ Đỗ Nhuận ra đời vào những năm 70, cho đến nay, do nhiều lý do chủ quan và khách quan nên chúng ta chưa có vở mới dựng cho Opera Việt Nam mà phần lớn chỉ dựng lại những vở nhạc kịch nước ngoài. Với mục tiêu khôi phục lại Opera Việt Nam, Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam đã phối hợp với các nghệ sĩ tên tuổi dựng vở mới “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” theo kịch bản chuyển thể cho Opera của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận viết năm 1980 từ kịch bản văn học của nhà văn Nguyễn Đình Thi viết năm 1979. Khác với Cô Sao chất liệu dân tộc Thái, “Người tạc tượng” chất liệu Tây Nguyên “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” được nghệ sĩ Đỗ Nhuận viết trên cơ sở khai thác chất liệu dân ca Đồng Bằng Bắc Bộ. Vở nhạc kịch gồm 3 màn, dài 120 phút, mô tả lại thời gian Nguyễn Trãi trụ lại Đông Quan sau khi từ Trung Quốc trở về năm 1407 đến năm 1417. “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” là vở nhạc kịch Việt Nam có quy mô lớn được Bộ văn hóa – thông tin và nhà hát Nhạc Vũ kịch đầu tư dàn dựng công phu, tập hợp đông đảo lực lượng đạo diễn, diễn viên tên tuổi trong và ngoài nhà hát Nhà văn Nguyễn Đình Thi tham gia chỉnh sửa kịch bản, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân phối khí và hướng dẫn dàn nhạc, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đình Nghi đạo diễn sân khấu, nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Công Nhạc biên đạo múa cùng các nghệ sĩ như Trần Hiếu, Cẩm Liên, Trọng Thủy, Mai Tuyết, Hồng Lan, Ngọc Định… Theo ông Nguyễn Công Nhạc, giám đốc nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, cho biết: Sau 9 tháng tập luyện, cho đến lúc này Nguyễn Trãi ở Đông Quan đang ở khâu hoàn tất. Hy vọng Nguyễn Trãi ở Đông Quan sẽ ra mắt khán giả thủ đô vào dịp tết dương lịch năm 2001. Với sự dàn dựng quy mô, hoành tráng cùng tài nghệ của các nhà đạo diễn nổi tiếng, dàn diễn viên xuất sắc Nguyễn Trãi ở Đông Quan sẽ là món quà quí giá tặng công chúng nhân chào đón Thiên niên kỷ mới, chào đón 1 nghìn năm Thăng Long và cũng là một mốc son đánh dấu sự phát triển của Opera Việt Nam.
Mốt chào xuân
Mùa xuân làm bừng lên nét vui tươi, hồ hởi trên gương mặt thiếu nữ. Ai cũng như cảm nhận được cái không khí rộn ràng, ấm áp và giàu chất thơ của mùa bắt đầu cho một năm mới. Chào xuân về, chúng tôi xin gửi tặng bạn các mẫu trang phục đẹp đón xuân.
Lê Văn Tấn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

8 dự báo về tiến bộ của khoa học thế kỷ 21

Sự phát triển sinh sản vô tính
Đã 42 năm trôi qua từ năm 1978, kể từ khi em bé đầu tiên trên thế giới ra đời nhờ thụ tinh trong ống nghiệm. Nay đã có khoảng 100 nghìn em bé như thế cũng được sinh ra tại Mỹ. Kiểu sinh này vẫn còn được để ý tới dù có rất nhiều ý kiến bởi người ta mong muốn có những hậu duệ tốt nhất. Trong thực tế, sinh hoạt tình dục vẫn tồn tại vì nó mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng con người cũng ghi nhận được những sinh vật ra đời mà không cần giao phối như rệp vừng, cây bồ công anh ở Trung Quốc. Và vì thế người ta hy vọng đến năm 2025 sẽ có một phiên bản vô tính bằng người mà bằng xương bằng thịt được ra đời. Người ta sẽ tạo ra một con người mới từ các tế bào cơ thể mà không cần sự giao hợp để dẫn đến thụ tinh. Sinh sản vô tính là phương thuốc tuyệt vời cho những ai muốn di truyền cái đẹp thông qua người mang thai hộ. Nhưng, lúc đó mối tương quan chặt chẽ giữa các cơ quan tình dục và cơ quan sinh dục sẽ bị phá vỡ. Tình dục và tình mẫu tử không phải lệ thuộc vào nhau nhiều nữa. Và khi đó tình dục cũng mất dần đi, cũng có nghĩa sẽ vắng tiếng chim hót du dương gọi bạn tình, hoa sẽ thôi không xòe cánh để mời hương phấn.
Dược phẩm mới
Người ta hy vọng rằng trong thế kỷ 21 tới, sẽ có một loại dược phẩm thay thế các hóa dược ngày nay. Lúc đó bên cạnh những loại vác xin, kháng sinh, gen liệu pháp là dược phẩm mới. Tất nhiên, dược phẩm thay thế và phương pháp trị liệu thay thế không được nhuốm chất ma thuật. Tất cả những loại thuốc xuất thân từ thảo mộc phải được ghi đầy đủ thông tin để khách hàng kiểm tra và chọn lựa. Một vài trường Y phương Tây đã mở các khóa học tìm hiểu về những loại dược thảo hoặc động vật giúp các học viên phân biệt đâu là tác dụng thật của thuốc, đâu là những lời đồn thổi. Người Mỹ đã phải bỏ ra 30 tỷ đô la mỗi năm cho các phương thuốc trị liệu chưa từng có trước đó. Tuy nhiên một số người vẫn dự đoán Tây y tiến bộ, Mỹ sẽ quay trở lại với những loại dược phẩm hiện đại.
Gen sống thọ
Trong thiên niên kỷ mới, con người sẽ sống thọ hơn. Điều đó có vẻ như đã được các nhà khoa học nắm trong tay. Nhà khoa học Seymour Benzer thuộc Viện công nghệ California của Mỹ đã khám phá ra một loại ruồi dấm còn gọi là nhặng trái cây, đột biến sống hơn 100 ngày. Như vậy là chúng đã thọ thêm 1 phần 3 thời gian so với chủng loại. Điều khác biệt mà Benzer tìm thấy là một gen đơn độc gọi là methuselah. Benzer nghĩ tới con người, hy vọng là một ngày nào đó gen methuselah sẽ được đưa vào cơ thể để con người có được tuổi thọ cao hơn.
Chưa được bệnh ung thư
Ở thế kỷ 20 người ta đã tìm ra nguyên nhân của căn bệnh nguy hiểm này. Nó không phải do trầm uất hay ức chế tình dục mà do các gen bị đột biến. Khối u hình thành khi một tế bào chịu ít nhất là hai đột biến về gen. Các bác sĩ tin rằng trong 10 năm nữa họ sẽ tìm ra khối u ngay khi nó mới hình thành. Và 25 năm tới, một loại thuốc sẽ ra đời để chế ngự sự phát triển của một số bệnh ung thư thậm chí là chữa khỏi.
Cấy ghép não
Đến nay cấy ghép não vẫn còn là chuyện không tưởng nhưng tiến sĩ Evan Snyder, nhà khoa học thần kinh trường Y, đại học Harvard đã không loại trừ khả năng này có thể thực hiện được trong tương lai. Có thể sẽ là 10 năm, 20 năm,… hoặc xa hơn nữa bởi não chứa quá nhiều tế bào thần kinh phức tạp. Không dừng lại ở đó, mới đây Snyder đã đưa ra một tia hy vọng bằng cách trích các tế bào mầm thần kinh từ phôi thai và sản xuất ra hàng loạt trong phòng thí nghiệm. Ông hy vọng khi cấy các tế bào mầm thâm canh này vào não người, chúng sẽ thay thế các tế bào não đã bị chết hay bị bệnh. Nhưng tất cả vẫn là hy vọng, tin rằng những điều này chúng ta có thể làm được trong thế kỷ này.
Tài Lộc -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Giám đốc khách sạn – Phần 3

Nghĩa là tất cả những sở thích quen thuộc của Thành mà với nó gần như là máu thịt mà má anh mỗi khi có điều kiện đều làm cho anh ăn, đều được bày ra ở đây. Thành càng ngạc nhiên hơn bởi thái độ săn đón của cô Kim. Anh chờ cho người dọn bàn bưng đĩa cuối cùng ra khỏi bàn, anh hỏi:
-Cô Kim, có phải tất cả cán bộ công nhân viên đều được ăn như vậy chứ ?
Có lẽ cô ta biết sẽ có câu đó, ông Giám đốc nào mà chẳng hỏi cho có lệ, còn ăn thì vẫn cứ ăn; cô ta nhếch mép, nụ cười nửa môi, cục thịt ở má lồi ra rung rung:
-Làm gì có thưa Giám đốc, chỉ một mình Giám đốc thôi.
-Bữa ăn như vậy hết bao nhiêu tiền ?
Cô ta trả lời giọng giễu cợt:
-Chẳng có bao nhiêu cả, chỉ vài đồng.
Thành không ngờ, anh choáng váng, vị ngon của bữa ăn bỗng biến đi đâu mất, chỉ còn lại là sự đắng chát. Người ta ai cũng cần ăn để sống, cần ăn ngon, càng ngon càng tốt và chính vì vậy mà ngành khách sạn và nhà hàng ra đời; nhưng trong cái mớ bòng bong của kinh doanh thì sự lợi dụng để được ăn ngon, để được hưởng cái đặc quyền của biết bao vị có quyền mà đâu có vị có quyền lực nào từ chối bữa ăn mà người ta tự nguyện mang tới. Thành nghiệm ra rằng chẳng có người nào bỏ tiền túi ra để cho cấp trên ăn, để mua quà cho cấp trên. Họ sử dụng tiền của nhà nước và độc quyền bằng tiền của nhà nước để độc quyền cho lợi ích của cá nhân mình. Anh vô cùng bối rối, thức ăn ngon miệng đã vào hết trong dạ dày, lại không muốn mình trở thành một khúc gỗ biết di động một cách máy móc do người ta bày đặt ra sẵn trong bộ não vốn nhạy cảm của anh. Nó sẽ rất dễ biến anh từ một con người đa cảm trở thành một người đạo mạo, đạo đức, mẫu mực chỉ biết có mình, anh ta sẵn sàng hạ thủ tất cả những ai cũng dưới chiêu bài “phẩm chất” một cách cứng đờ. Thành đang đứng trước sự lựa chọn hoặc là la hét để được tôn vinh “đạo đức” hoặc là trở lại với con người bản năng: thích ăn ngon, gái đẹp mà không phải tốn tiền. Ở vào môi trường đầy cám dỗ này việc ăn ngon, biết chơi bời là điều người ta không phải giả đò hay ngượng ngập, nó đã trở thành chai lì, nó trở thành tự nhiên mà đôi khi nếu có ai đó giả vờ không biết hoặc không biết thực sự lại bị chế giễu. Thành biết rất rõ điều đó, sự lựa chọn của anh giữa cái sống chân thật đúng với bản chất vốn có của anh và sự biến chất để anh trở thành con người biết chơi bời, hưởng thụ và modern chỉ trong gang tấc….
Sau khi uống ly nước soda chanh do người phục vụ bàn mang ra, anh gọi người phụ trách nhà hàng:
-Ở khách sạn của ta, anh em ăn cơm ở đâu?
-Dạ, ở trên lầu 7 – Cô phụ trách phục vụ bàn trả lời, Thành hỏi tiếp:
-Bây giờ đã đến giờ cho anh em ăn cơm chưa ?
-Dạ, đang ăn ạ.
Thành cám ơn người phục vụ, anh ra thang máy lên ngay lầu 7, thấy anh bước vào, bà nấu bếp mặc quần đen đang xắn lên quá gối, áo công tác màu xanh lơ, bà vội kéo quần xuống, lễ phép:
-Mời Giám đốc ăn cơm.
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Giám đốc khách sạn – Phần 2

Vậy mà sau 25 năm nó trở nên điêu tàn, toàn bộ hệ thống vệ sinh đã hoàn toàn hư hỏng, hệ thống nước nhiều nơi bị bể nước chảy tràn thấm xuống các phòng ngủ nham nhở như tấm da báo chỗ đen chỗ trắng. Thành đứng lặng rất lâu trước các căn phòng một thời nó được gọi là khách sạn, chiếc table de nuit bị sứt mẻ, ở giữa chiếc ngăn kéo lẽ ra là một tay nắm bây giờ trơ ra một lỗ tròn nham nhở, nó nằm ở giữa hai chiếc giường mộc trải chiếu, phía trên là chiếc quạt trần tróc sơn bám đầy bụi đang quạt những vòng tròn chậm chạp không đủ sức gió cho người ngồi ngay dưới nó chứ nói gì nằm ngủ. Toàn bộ máy lạnh đều bị hư, cái lỗ để những chiếc máy lạnh người ta đã bịt lại bằng gạch, bằng gỗ nhếch nhác…Thành buột miệng: “Trời ! Đây là khách sạn sao ?” Anh nhớ lại cái thuở anh còn là người lính, doanh trại của anh tuy nghèo, nhưng đâu ra đó, nơi để súng mũ, trên giường chiếc chiếu trải sạch sẽ, và ở đầu giường chiếc khăn được xếp gọn gàng vuông vắn mà thời đó các anh còn đùa nhau “Chớ có đụng vào mép chăn, đứt tay đấy”. Còn ở đây, vậy mà nó được gọi là khách sạn…
-Mời Giám đốc xuống ăn cơm.
Cô phục vụ phòng lễ độ và có phần sợ sệt, cô vừa nhận được điện của nhà bếp, cô bước qua một bên; Thành rời căn phòng bước vào thang máy dành cho nhân viên, anh bấm nút có chữ G, đèn đỏ hiện ra và chiếc thang rùng mình đưa chiếc thùng sắt chạy xuống cho đến khi đụng chiếc lò xo lớn bên dưới cùng nghe một tiếng kêu “cạch”, Thành lại bấm tiếp một nút nữa cánh cửa mới mở ra, anh vội vàng bước ra khỏi thang vì nghe đâu loại thang máy này mà lơ mơ đang bước ngang đúng lúc nó tự đóng, cánh cửa đập mạnh vỡ mặt như chơi.
-Mời Giám đốc ăn cơm.
Cô Kim nhanh nhẩu mời Thành, vừa quay đầu xuống bếp nhắc cô nấu bếp với vẻ sốt sắng:
-Mau lên, mang đồ ăn….
Thành ngồi vào bàn ăn dành cho khách của khách sạn, mâm cơm được dọn ra đủ dinh dưỡng cho một phi công. Món nào cũng còn bốc khói: có canh, đồ mặn, một đĩa thịt bò xào hành tây, và cả một ly soda chanh. Bữa cơm đầu tiên anh ăn ở khách sạn để lại cho anh ấn tượng rất mạnh, các món ăn đều rất ngon miệng, anh rất hài lòng và một cảm giác khoan khoái anh cảm nhận được sau bữa ăn rất rõ, có lẽ lâu lắm rồi anh mới được ăn một bữa ăn ngon như vậy.
-Thưa Giám đốc, Giám đốc ăn có ngon miệng không ạ ?
-Ngon lắm, cảm ơn các cô.
Thành hài lòng về kỹ thuật nấu ăn, nhưng trong linh cảm anh thấy có điều gì đó không bình thường trong bữa ăn của anh. Mâm cơm được dọn với một cung cách hết sức đặc biệt, trên chiếc bàn hình chữ nhật chỉ riêng thức ăn đã gần kín bàn chưa kể đĩa ớt là món ăn mà Thành rất thích đó là loại ớt hiểm trái xanh mỗi khi cắn giòn rụm chẳng hiểu sao cũng có tại khách sạn này; một đĩa rau sống và có cả đĩa nước mắm loại rất đặc biệt chấm rau, chấm món thịt bò xào rất ngon.
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Giám đốc khách sạn – Phần 1

Thành nhận được quyết định điều động của cấp trên, về nhận chức Giám đốc khách sạn Dòng Sông Xanh. Lẽ ra người ta phải hỏi nguyện vọng, gợi ý của tổ chức, rồi giải thích một cách cặn kẽ, người ta còn phải xem anh có làm được hay không, anh có khả năng điều khiển và kinh doanh hay không….Anh nhớ hôm ông trưởng phòng tổ chức gọi anh:
-Tổng Giám đốc đã ký quyết định điều đồng chí xuống khách sạn Dòng Sông Xanh. Chiều ngày mai đồng chí sẽ xuống khách sạn nhận nhiệm vụ. Thôi nhé! Quyết định đã ký không có gì phải bàn, đồng chí biết đồng chí phải làm gì rồi chứ!
Thành sửng sốt, anh chưa bao giờ làm, chưa bao giờ được học, chưa bao giờ bước chân đến khách sạn chứ nói gì là điều hành một khách sạn . Anh mở miệng:
-Nhưng tôi chưa bao giờ….
-Tôi đã nói không có gì phải bàn cãi.
Ông trưởng phòng tổ chức xẵng giọng, chặn ngay không cho Thành nói. Với bộ mặt hẹp bề ngang, vừa dài vừa nhọn, đanh lại, mắt mở trừng, đôi môi mỏng từng miếng được dằn nhấn rất đúng lúc ngôi thứ nhất “tôi”, ông ta được đào tạo để trở thành một người sắt đá, chỉ biết làm việc dưới sự điều khiển của người khác và bao giờ ông ta cũng nhấn mạnh từ “nguyên tắc tổ chức”, đã gọi là nguyên tắc của tổ chức rồi thì không ai có thể thay đổi được.
Thành biết, nói với con người này khác nào đâm đầu vào đá, nhưng trong lòng anh cơn tức giận kéo đến như một đám mây giông cực kỳ to lớn không thể nào ngăn cản nổi, anh đứng dậy, đến sát bàn nơi chiếc ghế quay của ông Trưởng phòng tổ chức đã xoay sang một hướng khác, tay cầm chiếc điện thoại Mỹ màu đen, ông ta đang nói chuyện với ai đó bằng một giọng điệu khác hẳn:
-Vậy hả, để anh lo, không sao hết….anh sẽ xuống ngay, yên tâm đi.
Thành nói to khác thường:
-Tôi đã nói với anh là tôi chưa được học, chưa bao giờ làm, lỡ….
Chiếc điện thoại được dằn xuống đánh rầm một cái, ông Trưởng phòng tổ chức cắt ngang:
-Đồng chí nên nhớ đồng chí là một đảng viên, tổ chức phân công, Đảng phân công…
-Đảng viên đâu phải là ông Thánh mà cái gì cũng làm được. Đảng phân công cũng phải biết Đảng viên có khả năng hay không chứ, tổ chức gì mà kỳ vậy ?
Thành nói rồi nhìn thẳng vào mặt ông Trưởng phòng tổ chức. Cơn giận có lẽ đã làm cho bộ mặt, đặc biệt là đôi mắt của anh rực lửa hay sao ấy, làm cho ông Trưởng phòng tổ chức thoáng một chút hoảng sợ; nhưng bộ mặt quyền lực và thói quen khiến người khác phải run sợ trước cương vị “tổ chức” của ông, đã cho phép ông lấy lại bình tĩnh, ông ta nói:
-Đồng chí chỉ có hai con đường, hoặc là nhận nhiệm vụ, hoặc là….
Ông ta nói lấp lửng như bản tính vốn có, Thành hiểu đó là danh hiệu Đảng viên, nếu không nhận nhiệm vụ thì cũng có nghĩa là anh sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng.
Khách sạn Dòng Sông Xanh được xây dựng từ thời Mỹ đổ quân vào miền Nam nằm cạnh sông Sài Gòn. Thời đó nó là một khách sạn vào loại hiện đại để phục vụ cho quân đội Mỹ; mỗi phòng đều có bồn tắm, phòng vệ sinh riêng, máy lạnh, đặc biệt là có hệ thống điện thoại đến từng phòng, có hệ thống báo động và gọi người phục vụ….
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Nhiều giải pháp đẩy nhanh nhịp độ cổ phần hóa doanh nghiệp

Tính đến đầu tháng 7/1999, cả nước đã có 168 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa (trong đó riêng 6 tháng đầu năm 1999 có 66 doanh nghiệp). Qua đánh giá bước đầu, các doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa đều làm ăn có hiệu quả, tăng được vốn, giải quyết được việc làm cho người lao động. Tổng giá trị thuộc phần vốn Nhà nước được đánh giá lại tăng khoảng 40 – 50% so với trước khi cổ phần hóa. Tuy nhiên so với kế hoạch, việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm do nhiều đơn vị còn lúng túng trong việc xử lý công nợ, định giá tài sản, định tỷ lệ mua cổ phần….
Để khắc phục các hạn chế nêu trên, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Trần Xuân Giá cho biết, trong quý III/1999, Chính phủ sẽ ban hành và thí điểm một số chính sách mới. Trước mắt trong tháng 7/1999, ban hành Nghị định của Chính phủ về giao, bán, khoán cho thuê doanh nghiệp Nhà nước. Lập quỹ khuyến khích cổ phần hóa, củng cố và phát triển các quỹ đầu tư ở một số địa phương. Việc xử lý nợ ngân sách và Ngân hàng của doanh nghiệp Nhà nước thuộc danh sách cổ phần, giao, bán, khoán, cho thuê cũng được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể: công nợ lớn thì cho phép cơ cấu lại nợ; đối với phần nợ Ngân sách đã xác định là không thu hồi được thì cho xóa nợ; nợ Ngân hàng không thu hồi được thì cho khoanh nợ, dùng cơ chế tài chính để xử lý. Cũng theo tinh thần đổi mới này, quy định khống chế tỉ lệ mua cổ phần cũng sẽ bãi bỏ. Ngoài ra cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa cũng sẽ cải tiến thuận tiện và giản đơn hơn, mạnh dạn thực hiện theo phương châm “nếu giá có thấp thì công nhân hưởng”.
Cũng theo Bộ trưởng Trần Xuân Giá, trong tháng 8/1999 Bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ trình Chính phủ một phương án thí điểm bán phần vốn góp của Nhà nước trong các liên doanh với nước ngoài cho các nhà đầu tư trong nước để tạo thêm kênh huy động vốn trong nước và góp phần tạo nguồn Ngân sách, cũng như bán lại cổ phần của Nhà nước các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa không cần thiết có vốn của Nhà nước. Để hướng dẫn thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài (QĐ số 145/1999/QĐ-TTg ngày 28/6/1999), trong tháng 8/199 Bộ Kế hoạch – Đầu tư cũng sẽ phối hợp các Bộ, ngành liên quan xây dựng văn bản nhằm thu hút vốn, công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trình độ cạnh tranh và mở rộng thị trường để đầu tư phát triển các doanh nghiệp.
Giai thoại làng văn
Nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988) vốn có tài độc tấu ca dao. Với giọng đọc sang sảng, ứng xử mau lẹ, diễn ý dí dỏm, anh đã “cù” được nhiều người. Buổi sinh hoạt nào đến mục “văn nghệ giải lao”, có Thanh Tịnh là y như có tràng cười rôm rả, tiếng vỗ tay rào rào, tiếng hô “lại ! lại !”.
Tại Hội nghị “Thanh niên đô thị dùng hàng nội” ở Khu Bốn, sau khi tấu bài “Cụ già Đông Bắc”, công chúng yêu cầu Thanh Tịnh ứng tấu ca dao kịp thời. Anh húng hắng một lúc, rồi cất tiếng:
….”Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa
Một bao “Cotab” bằng ba con gà
Ba con gà cục ta cục tác
Bao “Cotab” ngáp ngáp là xong !….”
Tiếng cười rộ xen tiếng vỗ tay và yêu cầu “lại ! lại !”. Thanh Tịnh hứng thú đọc lại lần hai. Nhưng lần này, đến câu cuối, tự nhiên, anh lúng búng một lúc rồi cúi đầu chào khán giả…
Vào sau cánh gà, Thanh Tịnh ngã tay dơ cho tôi xem hàm răng giả rồi thở dài:
-”Khổ quá, Châu à, vì cái này rơi mà ngáp ngáp cũng không xong !…”
Hoàng Minh Châu – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Các công ty lữ hành khách sạn liên doanh cần biết bảo quản hồi hương thi hài – dịch vụ mới có ở Việt Nam

Cho đến nay, người Việt Nam không còn xa lạ với thuật ngữ “ướp xác” nữa. Ướp xác có thể hiểu là cách bảo quản thi hài người chết theo một thời gian nhất định. Từ trước đến nay ở Việt Nam chúng ta đã có vài công ty đứng ra làm công việc này. Nhưng kết quả vẫn chưa cao do kỹ thuật còn non kém. Kết quả là thi hài vẫn bị biến dạng, thời gian lưu giữ ngắn. Trong những năm gần đây, lượng người nước ngoài đến công tác, du lịch tại Việt Nam khá cao. Chuyện rủi ro cho những số phận: bị tai nạn, bị bệnh hiểm nghèo chết tại Việt Nam là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy, việc Nhà nước ta chấp nhận cho Hiệp hội ướp xác bảo quản hồi hương thi hài quốc tế (International Fegeration Thanatogy Association) gọi tắt là IFTA được phép hoạt động tại Việt Nam là điều cần thiết.
Sau khi nghiên cứu IFTA đã ủy quyền cho công ty Trách nhiệm hữu hạn xuyên Thái Bình Dương có trụ sở chính tại Hà Nội đảm nhận. Để chuẩn bị cho hoạt động này, ngay ngày đầu công ty đã cử bác sĩ Lã Thái Hoạt sang đào tạo tại Trung tâm kỹ thuật CEET (Pháp) trong sáu tháng.
Tại trung tâm, bác sĩ đã được đào tạo cơ bản thực tập ướp bảo quản 60 thi hài đủ sắc tộc, lứa tuổi trong các trường hợp tử nạn khác nhau. Sau khi tốt nghiệp, được Bộ Y tế chấp nhận, Văn phòng chính thức được hoạt động theo Giấy phép số 402 ngày 18/1/1999 do Bộ Y tế cấp.
Khi được hỏi về hình thức hoạt động, ông Nguyễn Minh Phú giám đốc công ty cho biết; với số vốn đầu tư là 70 nghìn USD, chúng tôi đã trang bị xe cơ động và các loại dụng cụ, hóa chất cần thiết cho 3 văn phòng Bắc – Trung – Nam đảm bảo phục vụ một cách nhanh nhất. Về đối tượng phục vụ trước mắt là những người nước ngoài đang sinh sống, công tác, đi du lịch tại Việt Nam.
Khi có trường hợp tử nạn xảy ra cần gọi gấp cho chúng tôi theo địa chỉ đã thông báo và mọi vấn đề sẽ được giải quyết một cách nhanh nhất. Từ thủ tục an ninh đến việc bảo quản, chuyển thi hài về quê hương họ chúng tôi đều phải đảm nhận. Được biết giá bảo quản một thi hài hiện nay chưa kể tiền hồi hương là 8000 – 10.000 USD. Và tất nhiên số tiền này do Hiệp hội IFTA thanh toán.
Hiện nay IFTA có 405 văn phòng hoạt động trên 70 nước cùng hoạt động song song hỗ trợ lẫn nhau. Về kỹ thuật bảo quản, sau khi thực hiện các thao tác kỹ thuật trên cơ thể người chết, với điều kiện bình thường xác có thể để được khoảng 1 tháng, trong nhiệt độ 8 – 12oC bảo quản được 6 tháng. Điều đặc biệt trong thời gian này, có thể hoàn toàn yên tâm thi hài không bị biến dạng và giữ nguyên được màu sắc, không bốc mùi gây ô nhiễm.
Đây là một loại hình dịch vụ đã hoạt động lâu năm trên thế giới nhưng còn thực sự mới mẻ với Việt Nam. Có thể dịch vụ cũng là một địa chỉ tốt cho các khách sạn, các công ty lữ hành, các cơ quan, đơn vị có người nước ngoài đang công tác, khách du lịch khi gặp chuyện rủi ro.
Sỹ Hào – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Người tâm huyết với nghề mộc Kim Bồng truyền thống

Du khách trong và ngoài nước đến Hội An không ai không một lần ghé thăm cơ sở sản xuất hàng gỗ mỹ nghệ Kim Bồng của anh thương binh Đinh Hữu Lời ở 108 Nguyễn Thái Học để mua hàng lưu niệm, ký kết hợp đồng sản xuất, mua bán.
Nguyên là đội trưởng biệt động thành thị xã Hội An, năm 1968, trong một trận chiến đấu ác liệt với kẻ thù, anh bị thương và bị địch bắt đày ra Côn Đảo 6 năm. Kiên trung một lòng với cách mạng, kiên quyết không chào cờ 3 que của ngụy quyền, anh bị đánh đập dã man. Đến năm 1974 anh được tha và về tham gia công tác trong ngành công an, rồi làm phó giám đốc công ty du lịch – dịch vụ, Ban tổ chức chính quyền thị xã. Năm 1990, anh về hưu với đồng lương ít ỏi và một thân hình thương tật 2/4.
Không cam chịu thiếu thốn, anh quyết tâm xây dựng cuộc sống mới bằng quyết tâm nghị lực của mình. Được bạn bè, chính quyền giúp sức, anh mở xưởng mộc để sản xuất hàng mộc mỹ nghệ. Hội An có nghề mộc Kim Bồng truyền thống tinh xảo đã giúp anh thành công. Vừa làm vừa học hỏi kết hợp nết tinh xảo của mộc Kim Bồng với các làng nghề mộc khác, sản phẩm mộc mỹ nghệ của anh từ những bức bình phong, tranh khảm xà cừ, những hộp đựng trà, khay bình ly, đến bàn ghế, giường ngủ… đều có nét độc đáo riêng, thu hút sự chú ý của khách hàng các nước như Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Úc, Đức…
Những năm gần đây, du lịch Hội An phát triển mạnh, lượng khách du lịch đến Hội An ngày càng đông, thông qua khách du lịch, sản phẩm mộc Kim Bồng của anh Đinh Hữu Lời đã vươn mạnh ra thị trường nước ngoài. Năm 1995 đã xuất khẩu đạt 20.000 USD, năm 1996: 50.000 USD lợi nhuận 60 triệu đồng; năm 1997 xuất đạt: 70.000 USD lợi nhuận khoảng 120 triệu đồng; năm 1998: 120.000 USD lợi nhuận 200 triệu đồng. Năm 1999, dự kiến sẽ có doanh thu 160.000 USD.
Hiện tại anh có 3 cơ sở sản xuất và trưng bày sản phẩm, có 60 lao động thường xuyên làm việc, trong đó có 13 lao động là con thương binh liệt sĩ, 8 bộ đội xuất ngũ, 11 lao động là người tàn tật, thu nhập bình quân của lao động chính từ 700.000đ- 800.000 đ tháng; người có tay nghề cao có thể thu nhập hơn 1 triệu đồng/tháng. Các em mới học nghề, lao động phổ thông thu nhập cũng từ 250-300.000 đồng/tháng. Là người đi lên từ nghèo khó, anh Đinh Hữu Lời rất thông cảm với nỗi khổ đói nghèo, tàn tật của đồng đội và con em họ. Những năm qua, cơ sở của anh đã trực tiếp dạy nghề cho trên 100 học sinh là con nhà nghèo, con thương binh, liệt sĩ trong vùng, các em tàn tật… giúp các em có việc làm ổn định cuộc sống.
Làm kinh tế, anh Lời không quên trách nhiệm với xã hội. Mặc dầu được miễn giảm thuế nhưng năm 1998, anh vẫn nộp thuế 7 triệu đồng, đóng góp ủng hộ các hoạt động xã hội từ thiện trên địa bàn thị xã, giúp đồng bào bị lũ lụt 15 triệu đồng.
Yêu mến nghề truyền thống, làm giàu bằng nghề truyền thống, cứu giúp những người nghèo khó, giúp họ có việc làm, giữ được nghề mộc Kim Bồng truyền thống của địa phương anh thương binh 2/4 Đinh Hữu Lời đã thực hiện lời dặn của Bác hồ “Thương binh tàn nhưng không phế”.
Nguyễn Văn Thiêng – – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999