Hội nghị toàn quốc biểu dương các khu dân cư tiên tiến xuất sắc

- Ngày 28/6, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã tiếp Hoàng tử Nhật Bản A-ki-si-nô và Công nương đang ở thăm hữu nghị chính thức nước ta.
– Ngày 29/6 tại Hà Nội, 126 đại biểu đã tham gia dự “Hội nghị toàn quốc biểu dương các khu dân cư tiên tiến xuất sắc”. Đồng chí Phạm Thế Duyệt, UVTV,TT Bộ Chính trị đã đến dự và phát biểu ý kiến tại Hội nghị. Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đã gặp mặt thân mật các đại biểu dự Hội nghị.
– Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu sẽ đi thăm chính thức nước Cộng hòa Cu Ba theo lời mời của vị đứng đầu Đảng, Nhà nước Cu Ba, Phi-đen Xa-xtơ-rô Ru-giơ
Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh sẽ đi thăm hữu nghị chính thức Iran và Ai Cập theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội hai nước này.
Lệ phí kiểu… bắt bí?
Bác Lê Văn Tâm hành nghề lái xe du lịch chở khách đã mấy chục năm, địa chỉ của bác ở 126/1 Phan Chu Trinh, TP Huế.
Với vẻ mặt cam chịu, bác Tâm nói với tôi: “Nè anh nhà báo, xin đôi điều về giá vé thu lệ phí cầu đường để anh xem nhé. Cùng một xe con (xe 4 chỗ ngồi của tôi) mà ở trạm Chư Á (Gia Lai) giá vé thu phí là 7.000 đ, ở Bình Định 7.000 đ nhưng ở Phú Bài (Huế) là giá vé thu lệ phí cầu đường lại gấp đôi là 15.000 đ, nhà báo thấy có lạ không?”
Tôi đang còn suy nghĩ thì bác Tâm rút túi đưa cho tôi một xấp vé thu lệ phí có ghi giá hẳn hoi. Trên một tấm vé còn ghi cả số xe của bác là 75H-2718.
Bác Tâm tiếp lời: “Nếu chở một người khách về sân bay Phú Bài thu được 60.000đ/chuyến, thì trừ vé thu lệ phí cầu đường – đóng 2 lần (đi và về) 30.000 đ, phí bến bãi của cụm cảng sân bay miền Trung 4.000 đ, tiền xăng hết khoảng 25.000 đ, còn lại 1.000 đồng thì xe và người sống làm sao đây?”
Thu lệ phí cầu đường là một chủ trương đúng đắn và là một công đoạn bắt buộc trong hình thức đầu tư BOT. Ngoài ra, trong khi còn khó khăn, thì thu phí giúp giải việc nhiều mặt về ngân sách (để có thể dùng bảo dưỡng, tái sản xuất…)
Tuy nhiên, việc giá vé thu phí cầu đường chưa đồng đều nơi này, nơi khác sẽ ảnh hưởng đến tâm lý phục vụ và hoạt động của các phương tiện giao thông, cụ thể là các phương tiện du lịch chuyên chở du khách. Mặt khách chính sự chưa hợp lý như đã nêu, rất có thể sẽ là nguyên nhân dẫn tới tiêu cực ở các trạm thu phí nếu sự theo dõi quản lý của cơ quan chủ quan lơ là, lỏng lẻo..
Anh Duyệt – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Vụ án “Làng kiến trúc phong cảnh Việt Nam

Theo dự kiến, trong tháng 8-1999 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử hai bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thủy và Trịnh Hồng Triển và tội “vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai” theo khoản 1 điều 180 Bộ luật Hình sự. Chắc chắn các bị cáo sẽ bị xử lý nghiêm mình theo yêu cầu đấu tranh phòng chống tội tham nhũng – một quốc nạn hiện nay.
Song dư luận quan tâm không khỏi băn khoăn, thắc mắc bởi trong vụ án này các cơ quan hành pháo không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các ông Trương Tùng – nguyên phó chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hà Nội, Vũ Huy Từ – nguyên phó Văn phòng Chính phủ (VPCP) và Bùi Xuân Vinh – nguyên chuyên viên VPCP là bỏ sót người lọt tội, không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tham nhũng và trong sạch hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Đảng đang phát động.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao cho thấy ông Trương Tùng đã ký giấy phép sử dụng đất cấp cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam 5000 m2 đất để xây dựng Làng kiến trúc phong cảnh du lịch Việt Nam và 861 m2 đất giao quản lý tạm làm đường chung cho cả khu vực không được xây dựng công trình… Nhưng lúc này trong hồ sơ xin đất của Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam không hề có luận chứng kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hành vi thiếu trách nhiệm của ông Trương Tùng trên cương vị phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội khi đó đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm 5000 m2 đất thoát khỏi sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện cho Thanh Thủy và Hồng Triển “biến” việc xây dựng làng kiến trúc phong cảnh thành tư gia của 24 hộ gia đình – tất nhiên hai vị cũng có hai suất trong đó. Hành vi của ông Trương Tùng không thể không cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 220 Bộ luật Hình sự cho dù quá trình điều tra xét thấy ông không có tư lợi cá nhân. Bởi vì hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra là yếu tố bắt buộc của tội phạm này.
Vẫn theo cáo trạng, ông vũ Huy Từ và Bùi Xuân Vinh đã thiếu trách nhiệm trong việc ra thông báo số 708 ngày 19/11/1992 thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép Trung tâm phong cảnh Việt Nam được đền bù thiệt hại đất nông nghiệp theo quy định số 1231/QĐ ngày 26/3/1986 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Xin thưa rằng vào thời điểm đó, quyết định 1231/QĐ đã hết hiệu lực pháp luật! Ừ thì cứ cho là ông phó VPCP và chuyên viên VPCP “trình độ hạn chế, năng lực yếu kém” đi, thế còn ý kiến Thủ tướng Chính phủ ở đây là sao? Qua điều tra xác minh, không thấy có văn bản nào có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ như thông báo 708 (!?). Vậy không hiểu động cơ gì mạnh mẽ đến mức khiến hai ông này dám “to gan” mạo danh ý kiến của Thủ tướng để thông báo “dọa” cấp dưới gây thiệt hại cho Nhà nước 1,5 tỷ đồng. Có lẽ lý do “tế nhị” chỉ có “những kẻ nằm trong chăn” mới biết! Cho dù không xác minh được hai ông này có tư lợi thì hành vi thiếu trách nhiệm của họ cũng cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 220 Bộ luật Hình sự. Bởi vì hành vi thiếu trách nhiệm đã quá rõ, còn hậu quả nghiêm trọng theo tinh thần của Nghị quyết số 1/89 ngày 18-4-1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì gây thiệt hại nghiêm trọng là gây thiệt hại về tài sản trị giá tương đương 5 tấn gạo, khi trị giá gấp 3 lần mức nêu trên thì thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Đối chiếu với hành vi thiếu trách nhiệm của ông Từ và ông Vinh gây thất thoát 1,5 tỷ đồng vào thời điểm năm 1992 quy ra gạo chắc chắn thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Thiết nghĩ, với tinh thần trách nhiệm trong việc xét xử, Tòa án nhân dân TP Hà Nội sẽ phán quyết việc này nhằm bảo đảm cho việc không làm oan người ngay nhưng không để lọt tội phạm.
Kim Ngân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000

Bên kia sông Đuống

Đã từng có một thời, những bức tranh Đông Hồ được coi là vật không thể thiếu trong mỗi gia đình vùng Kinh Bắc và nhiều vùng trên khắp nước ta trong ngày xuân, ngày tết. Và cũng đã từ rất lâu, những bức tranh Đông Hồ bất hủ: những “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Đánh Ghen”… đã được đặt trang trọng trong các bảo tàng nghệ thuật danh tiếng khắp Á, u…. Như một niềm vinh quang của nền hội họa dân gian Việt Nam. Khác hẳn với các loại tranh nghệ thuật khác, không phải văn hóa, cầu kì cũng không có nét trau chuốt tinh xảo cả trong bố cục lẫn nội dung, tranh Đông Hồ được tạo nên bởi thẩm mỹ nghệ thuật đầy tinh tế, sự khéo léo nhẫn nại của những nghệ nhân, bằng những phương pháp thủ công với chất liệu được chắt lọc hoàn toàn từ thiên nhiên. Một bức tranh Đông Hồ thường được phối hợp bởi 5 màu sắc truyền thống. Chất điệp chế từ vỏ sò, vỏ ốc của vùng biển Quảng Ninh hòa với kẹo tạo thành màu trắng ngà, sáng điệp óng ánh. Màu vàng tươi lấy từ hoa hòe, rơm nếp… Màu xanh da trời trong sáng được chiết xuất từ gỉ đồng. Màu đỏ nồng nàn, ấm áp được tạo từ gỗ cây vang. Màu đen tuyển nền nã được gạn lọc từ than lá cây tre. Tất cả được in trên nền giấy đó bằng những bản khắc gỗ. Gỗ để làm bẳn khắc phải là gỗ vàng tâm, gỗ thị, gỗ mít thì nét khắc mới sắc sảo, bản khắc mới ăn màu và bền với thời gian. Không phải chỉ độc đáo ở chất liệu tạo thành mà sức hấp dẫn cơ bản trong những bức tranh Đông Hồ còn được toát lên từ cái chủ đề dân dã có nội dung giáo dục được toát lên từ cái chủ đề dân dã có nội dung giáo dục đối với con người. Mặc dù có rất nhiều thể loại như: tranh thơ, tranh chúc tụng, tranh vẽ theo truyện, theo phương ngôn, tranh sinh hoạt…. song các bức tranh Đông Hồ đều thể hiện những cảm nhận nhân ái về vạn vật, biểu bạt những khát vọng mãnh liệt về một cuộc sống thịnh vượng, sinh sôi rất đặc trưng cho tính cách tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đúng như cảm nhận của nhà thơ Hoàng Cầm trong bài thơ “Bên kia sông Đuống”.
“…Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…”
Làng tranh Đông Hồ nay thuộc xã Sông Hồ huyện Thuận Thành – Bắc Ninh. Làng có 10 dòng họ lớn với 3 dòng tranh dân gian: Hàng Trống, Kim hoàng, và Đông Mái. Hiện chỉ còn tồn tại tranh Đông Hồ và cái tên cổ “Láng mái” như trong câu ca dao:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề làm tranh…
Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng ở làng Đông Hồ thì nghề tranh đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm, đến nay đã được 20 đời theo nghề truyền thống. Những bức tranh ông Bụt, tranh thần Độc Cước đã được in rất nhiều ở đây từ thời Lý. Nghề tranh Đông Hồ đã từng cực thịnh qua Lý – Trần – Lê…đến mãi những năm đầu thế kỷ này… ở Làng Hồ nay vẫn còn một di tích lịch sử gắn liền với truyền thống nghề tranh là đình Đông Hồ – đình Tranh. Bao nhiêu năm trước đây, ngôi đình cổ kính này từng là địa điểm họp chợ tranh. Cứ từ mồng 6 tháng chạp cho tới Tết âm lịch, khách khứa, lái buôn từ tứ phương lại đổ về nơi đây để họp chợ, mua tranh… Tranh Đông Hồ từ đó tỏa đi rực rỡ khắp các chợ quê, đem lại niềm vui cho bao mái ấm gia đình ngày Tết. Chợ tranh hôm nay không còn hợp nữa, cảnh tấp nập, nhộn nhịp xưa chỉ còn trong kí ức, trong hoài niệm làm ngẩn ngơ tâm trí bao người. Tranh Đông Hồ, một nghệ thuật lừng danh cho xứ Bắc nói riêng và cả dân tộc nói chung, đang bị mai một dần đi. Trong nền kinh tế thị trường, vì nhiều nỗi lo toan cho cuộc sống, dân làng Hồ này không còn mặn mà với nghệ thuật làm tranh như trước nữa. Con số những gia đình nghệ nhân còn gắn bó với nghề tranh chỉ là một là hai trong số hơn 130 hộ gia đình của làng. Tiếc thay nghề tranh Đông Hồ nay đã phải chuyển sang nghề làm hàng mã… Thực trạng này đặt ra những câu hỏi bức xúc cần được giải quyết: “Phải làm gì để giúp nghề tranh Đông Hồ?”. “Phải làm gì để gìn giữ dòng nghệ thuật hội họa quý giá cho các thế hệ mai sau?”.
Nguyễn Khánh Minh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Phan Thiết – Bình Thuận không thu hút nổi khách

Những năm trước khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam thường ít ghé Bình Thuận, phần lớn họ ghé Nha Trang, Hôi An, Huế… những địa phương chỉ du lịch nổi tiếng của nước ta. Dẫu là một tỉnh giàu tiềm năng về biển, nhưng trên phương diện du lịch biển ở Phan Thiết – Bình Thuận không thu hút nổi khách, và thành phố cuối cùng của vùng duyên hải miền Trung Việt Nam này rốt cuộc chỉ được du khách biết đến như là xứ sở của nghề làm nước mắm nổi tiếng. Hiện tượng nhật thực toàn phần xảy ra ngày 23 tháng 10 năm 1995 đã làm đã làm thay đổi cách cảm, cách nghĩ của nhiều nhà quản lý và kinh doanh du lịch của nước ta nói riêng, quốc tế nói chung về vùng đất này. Ngày ấy khách các nơi nườm nượp đổ về Phan Thiết, đường phố đâu cũng đông chật người, các khách sạn nhà nghỉ không còn chỗ trống, Khách cắm trại dựng lều bạt, trên các bãi cát, những khoảng trống…Khi hiện tượng nhật thực qua đi, nhiều dự án vè du lịch ở đây đã được gấp rút hoàn thành, đấy là những Công ty Golf và Câu lạc bộ Golf Phan Thiết, Công ty liên doanh làng du lịch Hàm Tiến – Hải Dương Resort, Công ty liên doanh làng du lịch Phan Thiết (Victoria), Công ty liên doanh du lịch Phan Thiết (Novotel).. Cho đến khi hương lộ 706 nối Phan Thiết với Mũ Né hoàn thành, đưa vào sử dụng, cảnh quan ở đây thay đổi hẳn. Bán đảo Mũi Né với những bãi cát dài nhìn thẳng ra đại dương, trở thành điểm sáng thu hút đông đảo du khách bốn phương. Năm 1998, khách du lịch tới Bình Thuận là 90.231 lượt người, trong đó có 16.532 lượt khách quốc tế. Năm 2000 dự kiến con số này sẽ là 170 nghìn đồng và 35 nghìn đồng. Từ đây bên cạnh những Huế, Hội An, Nha Trang, Hạ Long… bản đồ du lịch Việt Nam được bổ sung thêm một địa chỉ mới: Mũi Né!. Sự gia tăng đột biến về lượng khách du lịch tới Mũi Né những tháng gần đây, đã kéo nhiều dịch vụ khác tăng theo. Và công ty du lịch Hà Phương thuộc Sở Du lịch Khánh Hòa (Ha Phuong Tourist Company), một đơn vị có chức năng hoạt động lữ hành nội địa đã quyết định mở tuyến du lịch Nha Trang – Mũi Né. Tuyến du lịch này khai trương ngày 3 tháng 3 năm 2000. Bà Bùi Thị Phương, giám đốc Công ty cho biết: Từ Nha Trang hàng ngày Công ty có hai chuyến xe chở khách đi Mũi Né, chuyến thứ nhất khởi hành lúc 6 giờ sáng, chuyến thứ hai khởi hành lúc 20 giờ 30 phút. Giá vé chặng Nha Trang – Mũi Né là 6 đô la Mỹ, Mũi Né – thành phố Hồ Chí Minh 6 đô la Mỹ. Những du khách không có nhu cầu ghé Mũi Né mà đi thẳng thành phố Hồ Chí Minh, giá vé chặng Nha Trang – Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là 8 đô la Mỹ. Tương tự như vậy ở nhiều ngược lại, tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày Công ty cũng có hai chuyến xe chở khách đi Mũi Né, Nha Trang. Giá vé chặng thành phố Hồ Chí Minh – Mũi Né 9 đô la Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang 10 đô la Mỹ. Chi nhanh Mũi Né của công ty đặt văn phòng tại km 14 hương lộ 706, quãng giữa Phan Thiết – Mũi Né. Sau hơn một tháng khai trương tuyến du lịch này được sự đón hận khá nhiệt tình của du khách. Trước kia từ Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Nha Trang đi Mũi Né, khách du lịch phải ghé xuống Phan Thiết rồi tìm phương tiện đi Mũi Né, khá mất thời gian và tốn kém. Bây giờ từ những vị trí trên hành khách, hoàn toàn yên tâm tới Mũi Né mà chỉ mất 3 đến 4 giờ đồng hồ. Thống kê sơ bộ của Công ty một tháng qua cho thấy, 80% số khách đi xe là người nước ngoài, và trong số khách đi xe, những du khách có nhu cầu xuống Mũi Né chiếm đến 50%. Giống như một phát hiện mới lạ, đến lúc này nhiều người mới vỡ lẽ một điều: Vùng đất tưởng chỉ có nắng gió và biển xanh này tiềm ẩn khá nhiều khả năng du lịch. Về di tích có lầu ông Hoàng, tháp Posăn, chùa núi Tà Cú, Vạn thủy tú nơi trưng bày 100 bộ xương cá voi), trường Dục Thanh nơi Bác Hồ từng dạy học trước lúc xuất dương sang Pháp… Về thắng cảnh có đồi hồng Hòn Rơm, mũi đá ông địa, hình đổi dạng… Những thắng cảnh du khách chỉ ghé thăm một lần, và từ đó chúng lưu lại lâu dài trong ký ức của họ.
Trần Chấn Uy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Muôn mặt hàng giả

Phó tổng giám đốc Công ty Procter và Gamble Đỗ Sinh Huy nói: Từ đầu năm 1999 đến nay, Công ty P & G đã phát hiện rất nhiều vụ bán hàng mỹ phẩm giả mang nhãn hiệu của Công ty. Bọn bán hàng giả nhãn hiệu Rejoice do P & G Việt Nam sản xuất chơ bạo đến nổi là lâu la bán hàng mặc trang phục của công ty, đi xe hơi đổ hàng, treo cờ hiệu quảng cáo và còn làm cả thẻ nhân viên giả, tổ chức bán hàng rầm rộ như thật! Bọn này đến đâu là ở đó náo động.
Có thể nói, có bao nhiêu thứ hàng thật bán chạy trên thị trường thì có ngàn ấy thứ hàng giả xuất hiện theo. Áo sơ mi Việt Tiến bị giả đến nỗi công ty phải tổ chức niêm yết hàng giả và thật tại 70 cửa hàng của Việt Tiến trên toàn quốc. Gần tết là mùa xuân xuất hiện xi măng Hà Tiên giả do nhu cầu xây dựng tăng cao. Vào 2 vụ lúa là thời điểm hốt bạc của phân bón và thuốc trừ sâu giả. Theo sau là thuốc tây và đông dược, rượu ngoại nước ngọt giả. Từ năm 1992 đến nay, công an An Giang đã bắt và truy tố hàng chục vụ như thế. Tiêu biểu có thể kể vụ Hồ Văn Huyện và Nguyễn Văn Thạch ở phường Mỹ Bình, Long Xuyên tổ chức làm giả hơn 10 nhãn hiệu thuốc trừ sâu, vụ Nguyễn Thị Nga ở thị trấn Cái Dầu làm giả hàng ngàn chai bia Bến Thành, nước ngọt Phương Toàn và một số nhãn hiệu khác, vụ Hà Minh Nhất ở thị trấn Chợ Mới làm giả gần 2 nghìn bao xi măng Hà Tiên và xi măng Sadico… Hiện nay, hàng Việt Nam sản xuất đã đạt chất lượng cao, có uy tín không chỉ trong nước mà cả ở thị trường nước ngoài, do đó không chỉ bị làm giả trên sân nhà mà con ngay tại nước ngoài. Kẹo dừa Bến Tre nhãn hiệu Bà Tư mắt kiếng xuất sang Trung Quốc bị làm giả tại Trung Quốc bằng nguyên liệu toàn hóa chất. Nước mắn Phú Quốc bị Thái Lan làm giả bán đầy tại các siêu thị châu Âu và Mỹ. Nước hoa nhãn hiệu Miss Sài Gòn của công ty Mỹ Phẩm Sài Gòn bán sang thị trường Philippine bị nước này làm giả khiến cho doanh số bán sản phẩm này của công ty năm 98 giảm 1 phần 3, bằng 20 tỷ đồng. Mắm thái Châu Đốc bị giả tràn lan trong và ngoài nước…. Tác hại của hàng giả thực tế còn nguy hiểm hơn hàng lậu, bởi không chỉ làm ảnh hưởng đến kinh tế đất nước mà còn gây thiệt hại về sức khỏe, nhân mạng. Một chị xóm tôi đi xãm mắt bị thứ mục xăm dỏm làm cho đui luôn! Một chị khác ở phường Mỹ Long, Long Xuyên, sử dụng thuốc thông mũi nhầm thứ giả bị viêm dẫn đến nhiễm trùng hư sống mũi! Mỗi năm, mỗi tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có hàng trăm vụ ngộ độc thực phẩm, trong đó có nhiều vụ ngộ độc thực phẩm giả. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 về đấu tranh chống hàng giả, và buôn bán hàng giả. Theo đó, từng Bộ, ngành chức năng tổ chức kiểm tra chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong lĩnh vực mình quản lý. Các Bộ Trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải coi việc chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, có biện pháp đồng bộ tấn công hàng giả…Thực hiện chỉ thị này, hàng tháng các Bộ trưởng, thủ tướng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành có trách nhiệm báo cáo kết quả về Bộ Thương mại để tổng hợp trình Thủ tướng Chính Phủ.
Hoàng Tuấn – Trọng Triết-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Điểm hồng cho Khách sạn Khánh Hưng

Trong hoạt động kinh doanh, Khách sạn Khánh Hưng, Sóc Trăng hiện nay luôn hoàn thành xuất sắc kế hoạch được giao và nghĩa vụ đối với nhà nước. Phóng viên báo Du lịch đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi cùng ông Trần Đức Hiệp, giám đốc Công ty Khách sạn Khánh Hưng về những hoạt động của đơn vị.
Phóng viên: Ông có thể cho bạn đọc biết đôi nét về đơn vị đồng thời bật mí cho biết đã áp dụng kế sách nào để đạt được những hiệu quả trong kinh doanh, phát triển của đơn vị?
Ông Trần Đức Hiệp: Công ty Khách sạn Khánh Hưng là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính tỉnh ủy Sóc Trăng, được thành lập năm 1994. Hiện nay Khách sạn Khánh Hưng đạt tiêu chuẩn 2 sao, gồm 60 phòng ngủ, trong đó có nhà hàng 500 ghế, 7 phòng ăn riêng… Ngay sau khi thành lập đơn sớm đi vào hoạt động và liên tục gặt hái được nhiều kết quả khả quan. Đó là nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của các ban, ngành, lãnh đạo tỉnh nhà và nhờ sự nhiệt tình năng động của tập thể Cán bộ công nhân viên đoàn kết, hỗ trợ nhau trên tinh thần chung, phấn đấu xây dựng đơn vị bền vững và phát triển. Kế sách duy nhất của chúng tôi là biết nhìn lên để cầu tiến, nhìn xuống để khắc phục và nhìn ngang để điều tiết hợp lý, thực tế. Chính vì lẽ đó mặc dù Khách sạn Khánh Hưng có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn quốc tế 2 sao nhưng chúng tôi không hề nặng phần tiện nghi hóa mà chỉ tận dụng tiện nghi để điều tiết môi trường hiện tại. Trong tổng số có 60 phòng, chúng tôi chia làm 3 loại và phân chia giá cả phù hợp với mọi người, giá phòng loại 3 của chúng tôi là phòng vệ sinh riêng, giường nệm, quạt, không gian diện tích khoảng 6 người ở, mức gần là 60 nghìn người một phòng một đêm. Phần còn lại là loại 1 và loại 2 giá so với các đơn vị bạn bằng hoặc rẻ hơn. Trong khâu phục vụ ẩm thực, ngoài vệ sinh tuyệt đối, thực phẩm ở đây được thường xuyên thay đổi mới lạ thích hợp với khẩu vị khách. Nhờ vậy nhà hàng Khách sạn Khánh Hưng luôn là điểm hẹn mùa cưới và các buổi tiệc chiêu đãi khác. Năm 1999, vừa qua, tổng doanh thu của đơn vị đạt 6 tỷ 85 triệu đồng, lợi nhuận trước thuế gần 400 triệu vượt kế hoạch là 1,7%. Công suất phòng bình quân chiếm tỷ lệ từ 65% đến 80%. Tổng số khách trong năm gần 16 nghìn khách du lịch.
Phóng viên: Thời gian tới hoạt động của đơn vị có gì mới?
Ông Trần Đức Hiệp: Trước mắt tháng 5 đơn vị sẽ cho đầu tư 400 triệu lắp đặt hệ thống thang máy tại khách sạn, mở rộng thêm khu nhà hàng khách sạn, mới trong khu đất kế bên. Đồng thời hưởng ứng chương trình hành động quốc gia về du lịch, đơn vị triển khai mở thêm một số dịch vụ, sản phẩm du lịch hiện đại phục vụ du khách đến tham quan Sóc Trăng nói chung, phát triển kinh tế của đơn vị nói riêng.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông.
Liu Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Cần có thời gian để hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp luật

Trong thời gian giải lao tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 7 quốc hộ khóa X chủ tịch quốc hội Nông Đức Mạnh đã có cuộc tiếp xúc cởi mở, thẳng thắng với các nhà báo đang theo dõi đưa tin về kỳ họp. Nội dung cuộc trao đổi giữa Chủ tịch Quốc hội với các nhà báo xoay quanh vấn đề xây dựng pháp luật, một nhiệm vụ trọng tâm của kỳ họp lần này. Báo du lịch xin trân trọng giới thiệu cùng bạn độc. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là 1 trong 5 dự án luật sẽ được Quốc hội xem xét và thông qua tại kỳ họp này. Nhiều ý kiến bâng khuâng: Dự án Luật này có những vấn đề không bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp sản xuất trong nước? Về vấn đề này, Chủ tịch Nông Đức Mạnh nêu rõ: “Chúng ta đã ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước. Khi Quốc hội thông qua luật này tức là đã thể chế hóa hệ thống đường lối của chúng ta đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước, các đối tượng trong phạm vi điều chỉnh. Điều chỉnh sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài sẽ không có mâu thuẫn với luật khuyến khích đầu tư trong nước. Chủ trương của chúng ta là khuyến khích phát huy đa nội lực. Bên cạnh đó tiếp tục có những quy định cởi mở để có thể mở rộng đầu tư nước ngoài. Chúng ta coi nguồn lực trong nước, vốn trong nước là yếu tố quyết định, nguồn lực ngoài nước, vốn ngoài nước là yếu tố quan trọng. Một vấn đề khác cũng được các nhà báo nêu ra với Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đó là Rút kinh nghiệm sau khi ban hành Luật thuế giá trị gia tăng, chúng ta đã phải có hàng trăm văn bản để hướng dẫn thi hành luật. Lần này Quốc hội xem xét đồng bộ giữa những điều chỉnh sửa đổi bộ luật giữa những điều chỉnh sửa đổi của luật với những nghị định của Chính phủ để đảm bảo Luật được thi hành sớm? Cụ thể dự án luật đầu tư được thi hành vào tháng 7 năm 2000. Trả lời vấn đề này, Chủ tịch Nông Đức Mạnh cho biết: “Luật thuế giá trị gia tăng còn rất mới, nên trong quá trình xây dựng luật này chúng ta không có kịp thời những quy định cụ thể, trực tiếp do đó phải liên tục có những văn bản hướng dẫn. Đó cũng là thiếu sót từ các ngành chức năng của Chính phủ. Nhưng với luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, những điều chỉnh, sửa đổi bổ sung sẽ có những quy định kịp thời để hướng dẫn thi hành. Toàn bộ hệ thống pháp luật nước ta mới bắt đầu đặt nền móng do đó những quy định, nguyên tắc được thể chế hóa trong các điều luật là bước rất quan trọng. Chúng ta cần phải có thời gian nhất định mới có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực một cách cơ bản. Chúng ta có chương trình xây dựng pháp luật theo chu kỳ 5 năm, phù hợp với nghị quyết của Đảng về đường lối kinh tế xã hội trên tất cả các lĩnh vực ở mỗi giai đoạn phát triển. Vì vậy Luật nào đã có những nội dung không phù hợp thì chúng ta điều chỉnh bổ sung. Lĩnh vực nào chưa có, chúng ta xây dựng Luật, chúng ta tham khảo, nghiên cứu có chọn lọc cách làm luật của quốc tế, chứ nội dung, tinh thần của Luật phải là của riêng Việt Nam, phù hợp với định hướng Xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Bùi Hoàng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(132)2000.

Du lịch Việt Nam tại Hội chợ ITB Berlin 2000

Ngày 11 đến ngày 15 tháng 3 năm 2000 tại Berlin thủ đô Cộng Hòa Liên Bang Đức đã diễn ra Hội chợ quốc tế về du lịch lớn nhất từ trước đến nay, với sự tham gia của 8900 công ty Du lịch thuộc 175 quốc gia và vùng lãnh thổ. Diện tích trưng bày của các gian hàng lên đến 152 nghìn mét vuông. Trên 6.500 phóng viên báo chí từ 98 nước đã đến đưa tin về Hội chợ và trong năm ngày đã có 116.274 khách chủ yếu là các doanh nghiệp du lịch đã đến thăm và làm việc tại Hội chợ. Có thể nói, Hội chợ ITB Berlin 2000 đã hội tụ tinh hoa của ngành du lịch trên toàn thế giới. Tại đây với sự biểu dương lực lượng hùng mạnh của mình, du lịch đã khẳng định vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Đối với Việt Nam, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, Du lịch Việt Nam vẫn cố gắng tham gia các sự kiện lớn của du lịch thế giới, đặc biệt đã liên tục tham gia hội chợ ITB để từng bước đưa hình ảnh của Việt Nam hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Phát huy những kết quả của năm 1999, năm mà lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt cao nhất từ trước đến nay là 1,78 triệu lượt, đồng thời triển khai Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, Tổng cục du lịch Việt Nam đã tham sự Hội chợ ITB Berlin 2000 với mức độ lớn nhất từ trước đến nay. Gian hàng Việt Nam rộng 200 mét vuông đã được xây dựng thành Ngôi nhà Việt Nam. Cổng gian hàng được thiết kế theo dạng mái đình làng cổ kính, phông hậu được trang trí như mặt một trống đồng khổng lồ. Bức trướng mang dòng chữ lớn “Việt Nam” được treo cao, đứng xa hàng trăm mét cũng nhìn rõ và bên cạnh là bốn bức ảnh lớn của 4 Di sản thế giới của Việt Nam. Biểu dương Việt Nam – Điểm đến của Thiên niên kỷ mới với bức ảnh lớn “Nụ cười Việt Nam” được trang trí trên một bức tường dài là 15 mét đã làm rực rỡ thêm “ngôi nhà Việt Nam”. Toàn bộ các gian hàng được kết cấu bằng các thanh tre và lợp mái bằng lá cọ trắng, tất cả đều được đưa sang từ Việt Nam đã tạo ra dáng vẻ đặc sắc cho gian hàng Việt Nam. Bên cạnh những gian hàng rộng hàng nghìn mét vuông, được xây dựng hiện đại của các cường quốc du lịch như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore…, Ngôi nhà Việt Nam vẫn nổi bật bởi sự độc đáo và hấp dẫn. Cùng tham gia hội chợ, ngoài Tổng cục Du lịch, cơ quan chủ trì, gian hàng Việt Nam còn có 18 Công ty Du lịch, khách sạn hàng đầu của Việt Nam như Saigontourist, Vinatour, Tập đoàn khách sạn Accor, Furama… và Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Các cán bộ đại sứ quán Việt Nam và đông đảo cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc tại Công hòa Liên bang Đức đã đến tham quan Hội chợ. Mọi người đã hài lòng và tự hào có Ngôi nhà Việt Nam đàng hoàng và hấp dẫn. Sáng ngày 11 tháng 3 năm 2000, ngay sau lễ khai mạc, gian hàng Việt Nam đã được ông Diepgen, Thủ hiến Bang Berlin và ông Muller, Bộ trưởng kinh tế Liên bang Cộng hòa Liên Bang Đức đã bày tỏ sự quan tâm đến Du lịch Việt Nam và mong muốn thúc đẩy sự phát triển của du lịch hai nước. Tham gia các hoạt động tại gian hàng Việt Nam còn có Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Liêng bang Đức Lê Kính Tài và đoàn ca múa nhạc dân tộc của bà con Việt Kiều tại Berlin đã tạo ra không khí sôi nổi và thu hút hàng trăm người xem mỗi lần biểu diễn. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 2000 tại “Ngôi nhà Việt Nam”, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tổ chức họp báo. Tham dự họp báo có trên 30 phóng viên báo chí của Đức và một số tạp chí du lịch nước ngoài, có đại diện một số Công ty Du lịch của các nước là đối tác của các doanh nghiệp du lịch của Việt Nam. Sau khi giới thiệu về tiềm năng của du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam về du lịch, đại diện của Tổng cục Du lịch đã trả lời nhiều câu hỏi của các nhà báo. Kết thúc buổi họp báo là buổi tiếp tân rộng rãi với thực phẩm Việt Nam và bia Halida đã gây được ấn tượng tốt đẹp với những người quan tâm đến du lịch Việt Nam. Có thể nói Du lịch Việt Nam đã thành công tại ITB Berlin 2000. Trong năm ngày Hội chợ ITB Berlin 2000 đã có khoảng 15 nghìn người đến thăm gian hàng Việt Nam. Các công ty Việt Nam tham dự Hội chợ ITB Berlin 2000 đã gặp gỡ các đối tác nước ngoài, nhiều hợp đồng dã được ký kết ngay tại Hội chợ ITB Berlin 2000. Qua hội chợ ITB Berlin 2000 hình ảnh Việt Nam đã được nâng cao trên thị trường du lịch Thế giới.
T.L -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 22(126)2000.

Bác Hồ dạy “Mình là chủ phải luôn làm vui lòng khách”

Bố tôi kể rằng khi ông học hết Pri me thì lấy mẹ tôi, mở chung hàng ăn với cụ Phúc Thái người Hoa. Nhà thuê hàng chục bồi bếp, đang làm ăn khá giả nhưng ông một mức bỏ đi kháng chiến. Mãi khi hòa bình lập lại, gia đình về Hà Nội, mới biết ông làm bếp bên Vụ lễ tân, là nơi Bác Hồ thường chiêu đãi khách nước ngoài. Thỉnh thoảng bố cho tôi đến cơ quan, do đó tôi còn nhớ tên một số người như bác Vũ Đình Huỳnh – Vụ trưởng, bác Tường được trên giữ lại phục vụ Bác Hồ. Bố tôi lên là Thọ khi đó tuổi chưa đến 50 sinh năm Kỷ Dậu năm 1909 nên phải đi một số cơ sở như Quán Sứ, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Gia Thiều để đào tạo chuyên viên bếp Á. Tôi nhớ khoảng năm 1956 ông chuyển hẳn về khách sạn Lục Quốc 96 Chợ Hôm, có lần bố tôi còn giảng cho nghe năm chữ Hán trên tường là Lục Quốc đại phạn điểm. Khách ăn ở đây phần lớn là người nước ngoài, gốc châu Á. Một hôm vừa thấy tôi bố tôi đã xuýt xoa: “Hôm qua mở tiệ tiễn một đoàn Trung Quốc, Bác Hồ cũng đến dự một lát, giá con ở đây thì được trong thấy Bác”. Tôi cứ đứng ngẩn ra vì tiếc. Bố tôi tuy mặc âu phục nhưng vẫn để răng đen, hôm về nhà mọi người ngạc nhiên thấy hai hàm răng trắng bóng. Ông kể: “Tuần trước họp trên Vụ, Bác Hồ đến dự, sau khi căn dặn cán bộ, nhân viên lễ tân những điều cần thiết trong việc phục vụ các bạn ý Bác chỉ khách nước ngoài, Bác nhắc đi nhắc lại đại để: “Mình là chủ phải luôn luôn làm vui lòng khách”. Liền đó, Bác chỉ bác Tường và bố tôi, rồi nói đại ý là: “Vụ ta có sếp Tường và sếp Thọ đứng từ Bác dùng là hai nhân vật quan trọng thì đều có vấn đề. Sếp Tường thì bị hỏng răng, tôi xin bỏ tiền riêng biếu hàm răng giả, còn chú Thọ phải đánh ngay bộ răng đen đi, tôi cũng sẽ ủng hộ. Hàng ngày ta phải tiếp đãi bạn bè nước ngoài, nội dung tốt đã đành, nhưng hình thức cũng không thể xem nhẹ”. Thế là sau đó ít hôm, bác Tường, có bộ răng lành lặn rất đẹp, còn bố tôi thì ai gặp cũng khen trông sáng sủa hẳn ra. Bác Hồ đã mất. Bác Tường và bố tôi cũng đã là người thiên cổ, nhưng anh chị em chúng tôi thường kể cho con cháu nghe chuyện bộ răng giả của cụ Tường và bộ răng trắng của cục Thọ là cốt để các cháu thấy được sự quan tâm của Bác Hồ đối với mọi người để càng thêm kính trọng đức tính tốt đẹp của Bác Hồ.
Tìm cái xấu hơn
Đôi vợ chồng trẻ mới cưới đi nghỉ tuần trăng mật ở biển. Lúc đang tắm nắng, thấy anh chàng cứ nhìn chằm chằm vào cô gái bên cạnh, cô vợ tức quá véo mạnh vào chồng một cái và nói to:
Sao anh cứ ngắm mãi cô ta vậy?
À anh xem cô ta có chỗ nào xấu hơn em đó mà.
Mừng Đảng tròn tuổi 70 và mừng xuân Canh Thìn 2000, vừa qua tại Đà Lạt, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng tổ chức triển lãm Tranh dân gian Việt Nam. Các dòng tranh Đông Hồ, Hàng Trống và tranh thờ cổ với các chủ đề chúc tụng, ước mong ngày tết, tranh lịch sử, tranh truyện văn học cổ điển dân tộc… đã tham gia.
Trần Xuân -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 8(112)2000.

Luxembourg đã hành động rất đúng ưu tiên tài trợ các dự án cho Du lịch Việt Nam

Trong chuyến thăm và ký hiệp định tài trợ cho Việt Nam và Du lịch Việt Nam của Đoàn Chính phủ Luxembourg từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 12 năm 1999, ông Chales Goerens bộ Trưởng Bộ hợp tác phát triển và cứu trợ nhân đạo đã đến thăm trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Hà Nội, được tận mắt chứng kiến kết quả. Dự án tài trợ của Luxembourg cho Du lịch Việt Nam, ông đã khẳng định: “Chính phủ Luxembourg đã hành động rất đúng khi ưu tiên tài trợ các dự án Du lịch Việt Nam”. Cách đây 6 năm, vào tháng 10 năm 1993 tại cuộc họp thường kỳ Đại hội đồng tổ chức du lịch thế giới WTO hợp ở Bali – Indonesia, Tổng cục Du lịch đã đưa ra chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực du lịch và kêu gọi các tổ chức, các nước trên thế giới hợp tác giúp đỡ về đào tạo cho Du lịch Việt Nam. Luxembourg là một trong những nước đầu tiên hưởng ứng. Tháng 8 năm 1994 đoàn Luxembourg vào làm việc với Tổng cục Du lịch, đi khảo sát thực tế và ký với Tổng cục Du lịch Bản ghi nhớ, trong đó thì Luxembourg sẽ nghiên cứu tài trợ cho Du lịch Việt Nam dự án về đào tạo nghiệp vụ khách sạn. Được sự giúp đỡ của Bộ Ngoại giao và Bộ kế hoạch và đầu tư, nhất là sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ trong chuyến thăm 7 nước châu u, Thủ tướng Chính phủ cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ Đại công quốc Luxembourg đã thỏa thuận về đề tài trợ của Luxembourg cho Việt Nam, trong đó có tài trợ cho Du lịch. Tháng 1 năm 1996, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao – Ngoại thương và Hợp tác Luxembourg sang thăm ký hiệp định tài trợ cho Việt Nam. Nghị định thư về Dự án đào tạo nghiệp vụ khách sạn do Luxembourg tài trợ cũng được ký kết giữa 2 chính phút trong dịp này. Tháng 10 năm 1996, Dự án đào tạo nghiệp vụ khách sạn VIE/02 được triển khai thực hiện, nhằm 3 mục tiêu:
Xây dựng chương trình quốc gia về đào tạo nghiệp vụ khách sạn. Đào tạo đội ngũ giáo viên nồng cốt cho các trường. Xây dựng nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho 3 trường Du lịch tại Hà Nội, Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau 5 năm triển khai thực hiện Dự án, đến nay, chương trình đào tạo nghiệp vụ khách sạn đã được xây dựng với sự hợp tác của các chuyên gia Việt Nam, chuyên gia Luxembourg và toàn ngành Du lịch, bảo đảm yêu cầu đạt được chuẩn mực quốc tế và mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Chương trình đang được triển khai thử nghiệm trong các trường trọng điểm của ngành Du lịch để hoàn chỉnh và trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt cho ban hành trở thành chương trình quốc gia chính thức dạy trong các trường nghề khách sạn ở Việt Nam. Về đào tạo giáo viên dự án đã tập trung mở liên tiếp 3 lớp ở trong nước do chuyên gia nước ngoài bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên nồng cốt cho 3 trường Du lịch tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu và đưa đi Singapore bồi dưỡng tiếp 2 đợt. Qua 5 khó bồi dưỡng liên tiếp số giáo viên nồng cốt của các trường được nâng lên rõ rệt cả về chuyên môn, nghiệp vụ sự phạm và ngoại ngữ đang phát huy tốt vai trò nồng cốt giảng dạy ở các trường. Về nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho 3 Trường Du lịch tại Hà Nội, Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh đã được dành tới 80% tổng số tiền tài trợ của Luxembourg cho Dự án. Đã xây mới và cải tạo nâng cấp được 57 phòng học, 37 phòng ngủ, 2 ký túc xá, 3 khu hành chính với tổng diện tích là 8.324 mét vuông, hoàn thiện hệ thống cấp thoát nước và hệ thống điện, hệ thống điều hòa nhiệt độ của 3 trường. Đã cung cấp 8.080 chủng loại thiết bị, máy móc, dụng cụ học tập cho 3 Trường, trong đó có 1.631 dụng cụ làm bếp, 4.529 trang bị quầy Bar, nhà hàng, 34 trang thiết bị giặt là 46 trang thiết bị buồng phòng, 1054 đồ gỗ trang bị nội thất, 287 trang thiết bị tin học, 96 thiết bị học ngoại ngữ, 686 thiết bị dung cụ dạy và học khác. Các thiết bị, máy móc, dụng cụ nói trên đang sử dụng một cách có hiệu quả thiết thực đúng mục đích tại các trường. Ông Charles Goerens – Bộ trưởng Hợp tác Phát triển và cứu trợ nhân đạo Luxembourg nhận xét “Dự án đào tạo nghiệp vụ khách sạn VIE/002 đạt kết quả tốt, đã thực hiện được các mục tiêu đề ra, đúng tiến bộ, giải ngân nhanh. Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện thành công dự án do Luxembourg tài trợ.
-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 7(111)2000.