Hồ núi cốc

Hồ núi cốc – điểm du lịch của thiên niên kỷ mới, Mẫu Thị Yến – Trưởng phòng Du lịch Sở Thương mại – Du lịch Thái Nguyên. Hồ trên núi Cốc, một danh lam thắng cảnh do sự xếp đặt hài hòa giữa con người và tạo hóa để tạo ra một bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Vùng hồ Núi Cốc gồm 8 xã: Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ, Bình Thuận, Phác Xuân, Phúc Triều, Tân Cương và Phúc Tân, cách thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Tây , với tổng diện tích 16.000 ha, trong đó có 2.000 ha mặt nước hồ, ở đây có vô số đảo lớn nhỏ, núi đồi trùng điệp cùng thảo nguyên bát ngát. Nơi đây rất thích hợp với nghỉ dưỡng, thể thao, đua ngựa bơi thuyền, leo núi, nghiên cứu sinh thái lòng hồ du lịch văn hóa, tham quan. Núi Cốc trong thiên niên kỷ mới sẽ là một địa chỉ thu hút du khách quốc tế và các khách đô thị lớn từ phía Bắc về nghỉ cuối tuần, bởi vẻ hoang sơ đa dạng, yên tĩnh và không khí trong lành của nó.
Thời bao cấp, Thái Nguyên chỉ có 1 nhà nghỉ dành cho cán bộ nhân viên và nhà an dưỡng của quân khu I. Thời mở cửa do số khách đông số phòng thường xuyên bị cháy. Thái Nguyên đã đầu tư 4 tỷ đồng xây dựng mới khu huyền thoại cung, “Nàng Công chàng Ốc”, khách sạn nổi, khu vườn thú, làng dân tộc – với tổng số 400 phòng, trong đó có phòng họp, phòng hội thảo.
Nhờ vậy, năm 2000 doanh thu của điểm du lịch hồ Núi Cốc đạt 3,2 tỷ đồng đạt kỷ lục cao nhất từ trước đến nay, dẫn đầu ngành Du lịch Thái Nguyên về cách làm ăn năng động, có hiệu quả kinh tế cao. Để thu hút khách năm 2001 đã có dự án xây dựng khách sạn phương Nam, xây dựng các điểm vui chơi trên các đảo: đảo Cò, đảo Rắn, bán đảo vòi phun, đảo Kim Bảng, xúc tiến xây dựng trường đua ngựa để đưa ngành du lịch hồ Núi Cốc ngày càng phát triển.
Ngành hàng không và những cố gắng mới
Ngành hàng không và những cố gắng mới trong việc mở rộng tuyến bay, trong những năm 1997 – 1998, do sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, ngành hàng không cũng có nhiều bước gian nan. Những bắt đầu từ giữa năm 1999, tình hình sản xuất – kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam đã bắt đầu được phục hồi trở lại. Bằng nhiều biện pháp chiếm lĩnh thị trường để tăng thu, đồng thời nhờ kết quả chuyển giao thành công công nghệ khai thá, bảo dưỡng A320 từ giữa năm 1998 và một số biện pháp tiết kiệm, trong năm 1999 lợi nhuận trước thuế từ hoạt động vận tải toàn mạng đã đạt gần 500 tỷ đồng, các khó khăn về cán cân thanh toán gặp phải trong giai đoạn 1997 – 1998 đã được khắc phục hoàn toàn.
Năm 2000, thị trường vận tải Hàng không có những bước tiến vượt bậc. Ước tính đến hết tháng 12 năm 2000 Việt Nam Airlines đã thực hiện trên 26.900 chuyến bay, vận chuyển 2.859.000 hành khách, tăng gần 2% so với kế hoạch năm (tăng 11% so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 1.688.000 khách trong nước (tăng 6,8% so với cùng kỳ) và 1.170.000 hành khách quốc tế (tăng 16% so với cùng kỳ). Riêng trong quý 3, hệ số sử dụng ghế bình quân đạy 82%, tăng 4,17 điểm so với cùng kỳ năm 1999. Thị phần vận chuyển khách quốc tế đạt 38,35% tăng 1,2% so với cùng kỳ. Các xí nghiệp phục vụ thương mại mặt đất Nội Bài, Đà Nẵng Tân Sơn Nhất đã phục vụ cho 10.900 chuyến bay của các hãng Hàng không nước ngoài với 1.488 lượt khách.
Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh năm 2000 của Việt Nam Airlines là phục hồi và mở rộng mới 6 đường bay, trong đó hai đường bay Thành phố Hồ Chí Minh đi Xiêm Riệp và Quảng Châu đã thực hiện, 2 đường bay từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đi Seul, đường bay xuyên Đông Dương nối liền Hà Nội, Viêng Chăn, Phnom – pênh và Thành phố Hồ Chí Minh, đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Tô ky ô (hợp tác với các hãng hàng không Nhật Bản) đã thực hiện trong tháng 11. Ngoài ra Việt Nam Airlines còn tăng tần suất bay trên hầu hết các đường bay quốc tế đi Ô saka, Đài Bắc, Hồng K-ông, Băng Cốc, Kualalumpur… Với các chương trình phát triển như vậy, dự kiến năm 2000, Việt Nam Airlines sẽ vận chuyển được 2,8 triệu hành khách (tăng 9,7% so với năm 1999) và 4,4 tỷ hành khách/ km (tăng 15,6% so với năm 1999).
Về chất lượng phục vụ hành khách ở mặt đất và trên không, trong năm 2000 Việt Nam Airlines cũng đã đạt được một số mặt tiến bộ. Về tổng thể chất lượng dịch vụ, Việt Nam Airlines được xếp hạng thứ 35 trong số các hãng hàng không được xếp hạng trên thế giới (2 – 3 năm trước đây chỉ xếp thứ 44) và vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực (các hãng của Hàn Quốc, Trung Quốc): đặc biệt đội ngũ tiếp viên hàng không được xếp hạng thứ 4 thế giới đối với hạng doanh nhân và thứ 7 đối với hạng du lịch.
Để đáp ứng mục tiêu và phát triển định hướng cho thời gian tới, tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường phát triển trở lại, củng cố nâng cao chất lượng phục vụ hàng khách, lấy lại uy tín với khách hàng đồng thời tăng tính ổn định của lịch bay, cuối năm 2000 Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã thuê bổ sung 4 máy bay trong đó có 2 Boeing 767 và 2 ATR – 72. Số lượng máy bay A320 dự kiến cũng sẽ được bổ sung thêm trong năm 2000. Đồng thời công ty đã và đang phát triển khai thác nhiều chương trình nâng cấp chất lượng trong các mảng phục vụ mặt đất, phục vụ trên không, các dịch vụ khách hàng trong hoạt động bán…
Song song với các biện pháp trên, tổng công ty đã triển khai 3 chiến lược lớn là: điều chỉnh, hoàn thiện chiến lượt phát triển dài hạn đến cuối năm 2010, định hướng đến năm 2020; xây dựng kế hoạch phát triển năng lực vận tải đến năm 2005, định hướng đến năm 2010; dự thảo Nghị định mua sắm đặc thù áp dụng cho mua/ thuê máy bay, mua/ thuê/ dùng chung động cơ, vật tư phụ tùng.
Mẫu Thị Yến – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Nước anh vẫn mở cửa

Những thông tin về bệnh lở mồm long móng trong gia súc ở Vương quốc Anh khiến nhiều khách du lịch quốc tế tỏ ra ngần ngại khi dự định du lịch tới Anh quốc… Tuy nhiên, mới đây ông Tony Blair – Thủ tướng Anh quốc đã có thông điệp gửi tới các du khách quốc tế. Để cung cấp thông tin nhiều chiều cho bạn đọc, báo Du Lịch trích đăng một số ý chính ở thông điệp này để bạn đọc tham khảo.
Thứ nhất, đó là Chính phủ và nhân dân Anh đã và đang làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn và tiêu diệt bệnh dịch lở mồm long móng trong gia súc.
Tôi biết những điều tôi viết đây có thể không giống những gì bạn đã được xem, đọc và nghe trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những hình ảnh được chiếu trên vô tuyến với hàng loạt các gia súc bị giết chết và thiêu hủy tại nước Anh đã mang tới từng người Việt Nam và mọi người ở các nơi trên thế giới sự lo sợ bị lây nhiễm. Từ khi nạn dịch bắt đầu, nó luôn là vấn đề hàng đầu trong các chương trình nghị sự của Chính phủ Anh cũng như của cá nhân tôi. Theo các báo, đài, các phương tiện thông tin… đã đưa, đúng rôi chúng tôi đã tìm ra con số trên 1.000 trang trại bị nhiễm bệnh. Thế nhưng dường như họ đã quên nhắc tới con số 160.000 trang trại mà chúng tôi có trên toàn lãnh thổ Anh quốc. Và điều quan trọng là hơn một nửa số ca nhiễm bệnh là nằm tại một vùng.
Thứ hai là, dù căn dịch này đã gây ra nhiều thiệt hại cho người dân Anh, vẫn không khiến nước Anh phải đóng cửa đón khách du lịch và các đối tác liên doanh… Nạn dịch này không gây ra nguy hiểm gì cho sức khỏe con người và cuộc sống hàng ngày của tuyệt đại đa số người Anh. Cuộc sống của chúng tôi vẫn diễn ra một cách bình thường. Các điểm du lịch hấp dẫn của chúng tôi vẫn mở cửa đón khách tới tham quan.
Khách du lịch đến London, Edinburgh hay Cardyf sẽ không tài nào biết được về bệnh lở mồm long móng nếu như họ không chịu khó đọc báo hoặc nghe đài. Chúng tôi không thiếu thực phẩm, nước uống, những đồ dùng hoàn toàn đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày đối với người dân Anh cũng như khách đến du lịch Anh.
Một thống kê gần đây nhất cho thấy 80% trong số 15.000 điểm du lịch nổi tiếng nhất của nước Anh đã mở cửa lại và con số đó ngày càng tăng. 90% các chương trình du lịch và giải trí được tiến hành như đã định. Ngay cả tại những vùng có bệnh dịch, làng xóm và các điểm du lịch vẫn mở cửa đón khách. Du khách được đón chào nồng nhiệt khi đến thăm tháp London, lâu đài Edinburgh, vùng Lands End miền Tây Nam nước Anh hoặc vùng John O – Gróut Đông Bắc Scotland hay York – quê hương của Shakespeare. Các bạn có thể du thuyền trên hồ Loch Ness huyền thoại, chơi golf tại St Andrens hoặc thăm Canterburry, Cambridge hay Caernavon. Các bạn có thể lái xe đi khắp nơi và thả bộ trên những cánh đồng để ngắm cảnh… Tất nhiên có một số hạn chế, nhiều đường mòn tại các vùng nông thôn bị đóng cửa, mặc dù chúng dần dần được mở cửa trở lại. Lý do mà chúng bị đóng cửa là vì tuy không có hại gì cho người tiếp xúc với động vật nhiễm bệnh, nhưng để tránh nguy cơ gây lây lan. Một khi biện pháp đề phòng này được tuân thủ, tôi tin chắc rằng du khách sẽ có một chuyến thăm tuyệt vời tại các vùng nông thôn của chúng tôi.
Đã có rất nhiều du khách đến du lịch Anh quốc và chúng tôi hy vọng trong những tháng tới sẽ còn rất nhiều khách đến thăm hơn nữa.
Hạnh Nga – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Úng ngập vẫn đe dọa Hà Nội ?

Từ trước đến nay, nước thải của thành phố Hà Nội được thoát hoàn toàn theo dòng chảy tự nhiên chứ không hề có bàn tay con người. Hà Nội đã từng được mệnh danh là thủ đô của sông hồ bởi hệ thống hơn 100 ao, hồ, đầm, trong đó chỉ riêng 16 hồ nội thành đã có tổng diện tích gần 600 ha với sức chứa 15 triệu m3 nước. Phần lớn số nước thải của Hà Nội đều bị dồn tới các tuyến cống vốn đã quá lâu năm, có tuyến ngót ngét cả trăm tuổi, kích thước bé, độ dốc thủy lực nhỏ lại nhiều cặn bùn lắng đọng.Tính tính một cách rộng rãi, cả cống ngầm và cống ngang mới chỉ 120 km, đạt khoảng 55% tổng chiều dài đường phố. Có tới 16 – 17 km đường cống thuộc khu vực nội thành cũ không có cống ngầm thoát nước. Nhiều phố tuy có cống nhưng không đủ tiết diện và khả năng thoát cho lượng nước thải của Hà Nội lên đến 300.000 m3/ngày đêm. Hệ thống cống còn tạm dùng được đương nhiên phải đảm nhiệm việc thoát nước chung cho cả 3 loại nước: nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, rồi đổ ra 4 con sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét Lừ ra đập Thanh Liệt một cách “trời sinh ra thế”rồi tống thẳng ra sông Nhuệ. Cái nguyên lý thoát nước này chỉ tạm ổn khi trời “thương”, không có mưa bão. Nếu không thì Hà Nội ngập, Hà Nội lụt… Những điểm trắng trong mùa mưa ở Hà Nội cứ tăng dần theo thời gian: Phố Tôn Đức Thắng, hồ Thuyền Quang, phố Thanh Nhàn, phố Tây Sơn… Cũng lạ, người Hà Nội chịu được cảnh này có lẽ khá lâu rồi.
Ông Nguyễn Sỹ Bảo – Giám đốc Công ty Thoát nước thuộc sở Giao Thông công chính Hà Nội cho biết: Để giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập trong khu vưcj nội thành cần thiết phải hoàn chỉnh các hạng mục trong dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I, đó là nạo vét cải tạo toàn bộ hệ thống sông, một số hồ điều hoà quan trọng, lắp đặt thêm các tuyến cống ở các thành phố chưa đủ diện tích thoát nước, mở rộng các điểm co thắt dòng chảy trên mương.
Tính đến giữa tháng 5/2001, mới chỉ có thượng lưu sông Kim Ngưu được cải tạo xong theo chương trình của dự án và đang được đưa vào sử dụng còn lại 3 sông Tô Lịch, Lừ, Sét và hạ lưu sông Kim Ngưu mới bắt đầu được đưa vào cải tạo và dự kiến đến năm 2003 mới xong. Một số mương đang được thực hiện cống hoá như Phương Liên, Hào Nam, Nam Đồng…, còn hầu hết điều chưa được cải tạo đồng bộ. Hiện nay, dự án thoát nước vẫn đang tiếp tục triển khai gói thầu CP2 và cụm công trình đầu mối Yên Sở với công suất 45m3/s bắt đầu hoạt động.
Mặc khác, theo dự báo thì tình hình thời tiết năm 2001 sẽ diễn ra khá phức tạp. Đây thực sự là nỗi lo trong khi thực hiện dự án thoát nước, vì hệ thống thoát nước vừa phải vận hành vừa cải tạo và xây dựng mới, sẽ không đảm bảo công suất tối đa cho công tác thoát nước. Tình trạng lấn chiếm mương, sông vẫn xảy ra đây đó trên các cửa cống, sông, hồ làm cản trở đến dòng chảy. Đồng thời, việc giữ nước nuôi cá, lấy nước tưới cho nông nghiệp trên các hồ, sông làm cho nước đệm tại các nơi này dâng cao hạn chế việc tiêu thoát nước khi có mưa lớn trong thành phố. Một số tuyến công trong quá trình thi công dụng đất đá chặn dòng và sau khi thi công xong, đã không đưa lên khỏi lòng cống làm cho công tác duy trì gặp khó khăn. Quy chế quản lý hệ thống thoát nước theo 6032 hiệu quả còn thấp. Việc quản lý mực nước hồ, xử lý nước thải chưa phân cấp cụ thể nhiều khi chồng chéo dẫn đến tình trạng buôn lỏng quản lý, không có hiệu quả, gây khó khăn trong việc điều hòa và tiêu thoát nước khi có mưa…. Vì vậy, nếu mưa lớn trong mùa mưa năm nay, Hà Nội sẽ không tránh khỏi tình trạng có nhiều điểm úng ngập.
Để khắc phục tối đa việc úng ngập tại Hà Nội trong mùa mưa năm nay, Sở Giao thông Công chính Hà Nội, Ban quản lý dự án và Công ty Thoát nước Hà Nội đang tích cực phối hợp khẩn trương đẩy mạnh nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành dự án sớm hơn 19 tháng so với hiệp định đã ký. Trước mắt phải khảo sát lập hồ sơ giải tỏa nhanh 5 tuyến mương bị lấn chiếm là Thành Công, Văn Chỉ, Tân Lập, Đại Yên, Trắng Chẹm. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần chỉ đạo các quận, phường tạo điều kiện và phối hợp với các ngành trong việc ngăn chặn, giải tỏa cưỡng chế các vi phạm về trật tự xây dựng có ảnh hưởng đến công trình thoát nước… Công ty Thoát nước Hà Nội cũng cần thường xuyên khơi thông cống , rãnh, sông, mương, giải quyết các điểm úng ngập khi có mưa to.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Ở xứ sở mà phụ nữ là các bà hoàng

Những bà hoàng nơi rừng xanh: Ở một vùng núi hiểm trở thuộc khu tự trị Quanxi (Trung Quốc – xem bản đồ) có một dân tộc người Yao đỏ từng cư trú 1.400 năm từ đời nhà Tống (năm 618-907).
Muốn tới thăm các bản làng của người Yao đỏ du khách phải đi máy bay mất 2 giờ từ Thượng Hải tới Guilin (xem bản đồ). Từ sân bay, trên những con đường đèo cao, lũng sâu rất vất vả.
Người Yao đỏ có tên gọi như vậy vì phụ nữ rất ưa mặt áo bằng lụa nhuộm đỏ. Người Yao đỏ là 1 trong 55 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc. Họ có tới 2 triệu người sống ở vùng giáp ranh giữa ba tỉnh thuộc miền Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam). Đó là một vùng núi cao hiểm trở.
Một du khách nước ngoài đã từng tới thăm bản làng người Yao đỏ viết trên tạp chí “Le Figaro” như sau:
“Thật là một vùng hoang sơ, chúng tôi có cảm giác rối loạn tưởng như mình bị thời gian kéo lùi lại về thời Trung cổ. Không gian rừng núi vắng vẻ, âm u. Tuy nhiên, khi tới gần bản làng ngườiYao đỏ chúng tôi sững sờ khi gặp một vài phụ nữ đẹp như các bà hoàng đi làm đồng về. Họ mặc áo lụa nhuộm màu đỏ bằng lá cây rừng, còn váy có màu đen óng ánh nhuộm bằng lá chàm và máu bò. Khi nhuộm, họ lấy chày gỗ đập vải, sau đó lại nhúng vài dung dịch “chàm – máu bò” nhiều lần để vải không bị phai màu”.
Chế độ mẫu hệ của con người Yao đỏ:
Phụ nữ Yao đỏ có nước da trắng hồng, thân hình mạnh khỏe, cân đối, mái tóc dài. Vào mùa đông họ lại có thêm đôi môi đỏ và đôi má đào trời cho. Dân tộc Yao đỏ vẫn sống theo chế độ mẫu hệ. Đó là điều bí ẩn mà các nhà nhân chủng học còn chưa giải đáp được nguyên nhân hiện tượng này. Trong gia đình người Yao đỏ, phụ nữ nắm mọi quyền hành, điều khiển gia đình. Người phụ nữ Yao đỏ chủ động tìm chồng như ở chế độ phụ hệ thì người con trai chủ động đi tìm vợ.
Vào mùa xuân, người Yao đỏ tổ chức các lễ hội và trai gái các bản làng tụ tập để tìm hiểu nhau. Trong ngày hội, phụ nữ Yao thi kéo co, thi xem tóc ai dài, thi xem cô nào búi tóc nhanh và đẹp. Qua tìm hiểu, nếu ưng thuận, người con gái dẫn người yêu về nhà, sống cùng nhau như vợ chồng. Qua một thời gian chung sống nếu anh chồng vụng về không hợp với vợ thì người vợ có thể dẫn người con trai trả lại cho bố mẹ anh ta. Tuy nhiên, phong tục của người Yao đỏ không cho phép những cặp vợ chồng đã có con bỏ nhau.
Những cặp vợ chồng người Yao đỏ chỉ cưới nhau sau khi họ đã có một con. Đám cưới thường tổ chức linh đình, mời tới 200 – 300 người dự tiệc. Tiệc tổ chức ở tầng trệt dưới nhà sàn bên cạnh những chuồng trâu và chuồng lợn (ở miền núi, nhiều nơi làm chuồng gia súc như vậy để tránh thú dữ).
Người Yao đỏ sống định cư, họ thiết kế những ruộng bậc thang trên sườn núi rất công phu. Mùa màng thu hoạch đều đặn vì ở miền núi cao có tới 8 tháng mưa. Người Yao đỏ không có chữ viết riêng. Nền văn hóa của họ thông qua chuyện kể bằng miệng, từ đời này chuyền sang đời khác. Họ kể lại vì sao người Yao đỏ lại làm ruộng bậc thang như sau: “Ngày xưa, có một cô tiên trên trời tức giận con rùa của Ngọc Hoàng, bèn lấy chân giẫm làm vỡ nát con rùa. Chồng cô, nhặt những mảnh vỡ mai rùa ném xuống trần giang và những mảnh vỡ đó biến thành những ruộng bậc thang để con người cấy lúa.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Một kỷ vật sâu sắc

Ngay từ những ngày đầu của tour xuyên Việt, tôi đã chú ý tới ông. Đơn giản là trong khi những du khách khác say sưa ngắm cảnh thiên nhiên hữu tình hoặc vui vẻ thưởng thức những món ăn dân tộc lạ miệng của Việt Nam thì trên gương mặt ông vẫn phảng phất nét suy tư. Dường như lản trong ánh mắt ông là sự khoắc khoải, khát khao nào đó.
Chúng tôi làm quen với nhau. Ông tự giới thiệu ông tên là Jean Pierre Friant. Nơi ông ở là ngôi làng nhỏ bé, có cái tên dễ nhớ: Milly La Foret, cách Paris chừng 60 km về phía Nam. Chính nơi đây đã diễn ra cuộc gặp bí mật giữa cố vấn đặc biệt của Chính phủ Việt Nam, ông Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger để làm phán bước quyết định cho lễ kus Hiệp định Paris lịch sử diễn ra hồi tháng 11/1972. Ông còn kể cho chúng tôi nghe nhiều sự kiện xảy ra hồi đó. Tôi hết sức ngạc nhiên và thích thú, cảm ơn ông đã cho tôi những tư liệu quý giá về lịch sử đấu tranh của dân tộc mà tôi chưa được biết tới. Ông chỉ mỉm cười, rồi ngập ngừng nêu vấn đề, liệu đoàn có được đến thăm viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam? Tôi bất ngờ và bối rối, vì yêu cầu của ông không có trong chương trình tham quan của đoàn. Tôi đành khất và xin sẽ trả lời sau:
Trước bữa ăn sáng hôm sau, tôi cư slo thông báo thay đổi lịch trình sẽ gây phản ứng không tốt cho cả đoàn. Vì yêu cầu hôm trước của ông Jean Pierre Friant, tôi đã phải trình bày vất vả mới nhận được sự đồng ý thay đổi lịch trình từ giám đốc điều hành của tôi. Nhauwng thật không ngờ, tôi nhận sự tán thưởng rất nhiệt tình của cả đoàn
Dừng bên những bậc tam cấp dẫn vào sảnh chính của viện bảo tàng Cách mngj, tôi cẩn thận nói với cả đoàn, trong quá trình tham quan viện bảo tàng sẽ có những thực tế, dù là dĩ vãng, động chạm trực tiếp đến nước Pháp, rất mong nhận được sự thông cảm từ quý khách.
Quả nhiên những hiện vật và hình ảnh về sự đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam đã đặc biệt gây sự chú ý cho các vị khách. Các thành viên trong đoàn điều căng thẳng, một bầu không khí im lặng đến ngột ngạt khi cả đoàn tận mát thấy máy chém. Những dụ cụ tra tấn, rồi hình ảnh ngục tù của thực dân Pháp dùng để đàn áp những người cách mạng Việt Nam.
Hò nhạc Hennessy lần thứ VI
“Đến hẹn lại lên”, Chương trình hòa nhạc Hennessy lần thư VI sx được tổ chức tại nhà hát lớn Hà Nội vò ngày 6-5 tới!.
Với chủ đề “Tình yêu trong nhạc kịch”. Chương tình hòa nhạc Hennessy lần thứ VI sẽ cống hiến cho công chúng yêu âm nhạc của Thủ đô Hà Nội và toàn quốc (buổi diễn nhạc sẽ được truyền hình trên màn ảnh lớn đặt ngoài nhà hát và phát trên VTV3) ở vở kịch đoạn của các nhạc sĩ nổi tiếng trên thế giới: “Cosifan tutte” (Phụ nữ là thế đấy) của lạc sĩ lừng danh Wolfgang Amadeus Mozart, “Samson và Dalila” của Camille Saint – Saens và vở trichs đoan thứ ba là của tác giả Gaetano Donizetti dựa trên tiểu thuyết “Lucia di Lammermoor” của ngài Walter Scott.
Tham gia Chương trình này có các nghệ sĩ tên tuổi đến từ Mỹ, châu u, và châu Á như: Katherine Chu, Kazuko, Shinozaki, Ai Hanazumi, các ca sĩ nổi tiếng Youngok Shin, Vinson Cole, Kevin Short, Sondra Kelly, Paolo Pecchioli và các ca sĩ hợp xướng Opera Việt Nam.
Bàn ô cho mùa hè.
Du lịch hè đang cận kề cũng là lúc du khách rất quan tâm đến vấn đề về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm ở những nơi, những điểm du lịch sẽ dặt chân tới. Đó cũng là lý do để các nhà sản xuất đưa ra thị trường một loại “bàn ô” độc đáo có trọng lượng nhẹ và dễ di chuyển… ngoài tác dụng che nắng mưa, loại bàn ô này còn có thể “hóa phép” thành chếc lồng bàn để bảo quản thực phẩm khi cần thiết.
Trường Đinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Cần sự ổn định để phát triển

Đồng Mô (Ngải Sơn, thị xã Hà Tây) là vùng đất có tiềm năng du lịch lớn với cảnh sắc thiên nhiên, vị trí địa lý và thị trường du lịch thuận lợi tuy vậy, đã 11 năm hoạt động kinh doanh du lịch mà hầu như Công ty Du lịch Sơn Tây vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài những lý do chủ quan, ông Nguyễn Tuấn Dương – giám đốc Công ty đã nêu lên bức xúc cản trở sự phát triển của công ty.
Công ty Du lịch Sơn Tây là một đơn vị kinh doanh du lịch đầu tiên ở Đồng Mô từ năm 1989. năm 1993, từ một trung tâm cấp thị xã(Trung tâm Du lịch Sơn Tây), công ty được nâng lên thành doanh nghiệp nhà nước. cấp độ nâng lên song quy mô và diện tích khai thác du lịch ngày càng thu hẹp do sự “bùng nổ” về kinh doanh du lịch trên địa bàn.
Cũng cần nói sơ qua về hồ Đồng Mồ. Nó được tạo thành bởi con đập dài 10 km (đắp năm 1972) đón nước ở vùng núi Ba Vì, Lương Sơn đổ về. Hồ rộng 150 ha (gấp 4 lần Hồ Tây) với 21 đảo lớn nhỏ. Trước đây, cả khu vực thuộc nông trường Đồng Mô (150 ha mặt nước gần 1.000 ha đất bao quanh). Khi ra đời, Công ty Du lịch Sơn Tây hoạt động khai thác du lịch nhưng chưa được chính thức sử dụng đất. từ gần 1.000 ha đất quản lý chung với nông trường Đồng Mô, đến nay công ty vẫn còn “tạm thời quản lý” 103 ha đất. số còn lại phải chia 5 sẽ 7 với các đơn vị khai thác du lịch khác như Công ty cổ phần Du lịch Đồng Mô, công ty liên doanh thung lũng Vua và công trình văn hóa trọng điểm của quốc gia “làng văn hóa các dân tộc Việt Nam” (800 ha). Mỗi dự án du lịch mới ra đời là phần đất của công ty có nguy cơ co hẹp làm mất ổn định trong đầu tư xây dựng cơ bản và kinh doanh du lịch. Rút kinh nghiệm từ các bài học “Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam”, (công ty phải dở bỏ một số hạng mục đã xây dựng để nhường đất), công ty rất dè dặt khi huy động vốn đầu tư xây dựng, kinh doanh, dù nhận được lời mời vay vốn với các điều kiện ưu đãi.
Từ tháng 2/2000, tỉnh Hà Tây đã có những quy hoạch cụ thể cho phát triển du lịch, trong đó có việc đưa 103 ha đất cong lại ở Đồng Mô vào khai thác du lịch. Công ty đang chờ đợi quy chế cấp sổ đỏ và những cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất để có những kế hoạch đầu tư lâu dài. Nhưng cho đến nay, việc xúc tiến vẫn còn rất chậm nên thế để ổn định phát triển vẫn còn rất xa vời.
Bên cạnh đó, việc phát triển thiếu quy hoạch của các công ty du lịch trên cùng địa bàn cũng gây nên những khó khăn. Trong một dải dài ven hò, trụ sở của 3 – 4 ccông ty dựng gần nhau tạo sự cạnh tranh không hợp lý, gây ấn tượng xấu cho du khách. Nên chăng, có một Ban quản lý chung giữa các công ty để điều tiết hoạt động sao cho thu hút du khách đến Đồng Mô mạnh mẽ hơn.
Ở khu du lịch Sơn Tây hiện nay, dịch vụ du lịch – thương mại được đặt lên hàng đầu (du lịch thương mại chiếm tỷ trọng 30 – 40% trong cơ cấu kinh tế). Do vậy, sự ổn định trong hoạt động kinh doanh cho các đơn vị du lịch cũng chính là sự ổn định phát triển chung cho cả khu vực.
Chân dung thành viên công ty dịch vụ du lịch Bến Thành.
Công ty Dịch vụ du lịch Bến Thành (Bến Thành Tourist) được thành lập năm 1989 tại thành phố Hồ Chí Minh. Những lĩnh vực hoạt động chính của công ty gồm:
Kinh doanh Dịch vụ – Du lịch, với trụ sở chính và nhiều đầu mối thu hút khách tại TP. Hồ Chí Minh và các địa phương. Ngoài ra, công ty còn có các cơ sở dịch vụ lưu trú, ăn uống, giải trí và các dịch vụ về bán vé máy bay, hướng dẫn thủ tục xuất nhập cảnh.
Thương mại xuất nhập khẩu.
Đầu tư liên doanh với nước ngoài.
Hiện nay Bến Thành Tourist là thành viên của các hiệp hội du lịch quốc tế như: PATA, ASTA, JATA. Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh lữ hành, công ty có mối quan hệ với 50 hãng của 30 quốc gia, có đậu diện hoạt động tại các thị trường Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Úc. Vì vậy, công ty luôn có nguồn khách ổn định từ các thị trường lớn.
Cùng với sự đẩy mạnh hoạt động của các lữ hành quốc tế, công ty chú trọng khai tác nguồn khách phục vụ cho kinh doanh lữ hành nội địa với nhiều tuyến du lịch trong nước phong phú đa dạng.sau hơn chục năm hoạt động kinh doanh, công ty dịch vụ du lịch Bến Thành đã không ngừng phát triển, từng bước khẳng định vị trí của mình trong ngành du lịch Việt Nam và có uy tín với nhiều đối tác trên thế giới. nhiều năm liền Công ty đã được chính phủ , Tổng cục Du lịch tặng cờ thi đua, khen thưởng.
Địa chỉ liên hệ:
Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành
4 – 6 Hồ Huấn Nghiệp, Quận 1, TP. H ồ Chí Minh.
Tel: 84-8-8238962/ 8238963 Fax: 829269
Chi nhánh Hà Nội:
11 Tràng Thi, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: 84-4-9345315/ 9345313
Lê Nguyễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Tất cả nhằm phát huy giá trị của vịnh

Ban quản lý Vịnh Hạ Long có chức năng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Vịnh Hạ Long, mà trọng tâm là khu vực Di sản thế giới đã được UNESCO công nhận.
Chính thức hoạt động từ tháng 3/1996, định hướng và phương châm hoạt động được Ban quản lý Vịnh Hạ Long xác định: tập trung giải quyết những vấn đề nổi cộm, tạo chuyển biến thực sự về hiệu lực quản lý Nhà nước trên Vịnh Hạ Long; từng bước đề xuất những công việc có tính chiến lược, lâu dài; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương tạo ra sự kiểm soát toàn diện với Vịnh Hạ Long.
Thời điểm mới thành lập, Ban quản lý Vịnh Hạ Long chỉ có 12 biên chế với các phòng: hành chính – nghiệp vụ, đội kiểm tra, các bộ phận khác làm việc theo chế độ chuyên viên. Đến nay, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã được củng cố và phát triển tương đối toàn diện với 3 nhóm hoạt động: 1. Bộ phận quản lý (phòng nghiệp vụ, hành chính – tổng hợp, đội kiểm tra, kế toán – tài vụ); 2. Bộ phận hoạt động sự nghiệp (quản lý hang động, trung tâm thông tin hướng dẫn, trung tâm tìm kiếm cứu nạn); 3. Bộ phận kinh doanh (Trung tâm dịch vụ vịnh Hạ Long). Tổng số cán bộ công nhân viên của Ban quản lý Vịnh Hạ Long nay đã lên tới 200 người, trong đó chỉ có 14 biên chế chính thức. Với cơ cấu như trên, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã bước đầu đáp ứng nhiệm vụ được giao. Trong 5 năm qua, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã thường xuyên phối hợp với cơ quan có liên quan (Công an, Giao thông vận tải, Khoa học – Công nghệ – Môi trường…) tổ chức kiểm tra thường xuyên các hoạt động trên vịnh Hạ Long, lật lại trật tự trong quản lý tàu thuyền du lịch, ngăn chặn và xử lý nhiều vụ xâm hại đến giá trị vịnh Hạ Long.
Bên cạnh đó, các hoạt động tuyên truyền quảng bá về vịnh Hạ Long, những quy định trong quản lý bảo vệ di sản cũng thường xuyên được triển khai. Năm 2001 này, Ban quản lý Vịnh Hạ Long bắt đầu phối hợp với ngành Giáo dục – Đào tạo Quảng Ninh đưa chương trình giáo dục về Di sản vào học đường và mở website trên mạng Internet.
Cho đến nay, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã đề xuất và tổ chức thực hiện một số dự án đầu tư vào các hang động, đảo núi nhằm khai thác và phát triển các giá trị to lớn của Hạ Long: dự án tu bổ, tôn tạo động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, hang Đầu Gỗ, đảo Ti Tốp. Hiện tại, dự án xây dựng khu vui chơi giải trí và dịch vụ tại đảo Soi Sim, khu lưu trú nghỉ qua đêm tại Sửng Sốt, Hang Luồn… cũng đang được thực hiện.
Để có những căn cứ pháp lý vững chắc nhằm mục tiêu đầu tư, khai thác, phát triển bền vững các nguồn lực của Di sản, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã xây dựng Quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị vịnh Hạ Long đến năm 2020, Bản quy hoạch này đang được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ngày 29/11/2000, Ủy ban di sản thế giới đã chính thức quyết nghị công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (i) của Công ước quốc tế về di dản thế giới.
Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu hợp tác với các tổ chức quốc tế như: UNESCO, IUCN, Trung tâm Di sản thế giới… Bên cạnh đó, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã thiết lập quan hệ chặt chẽ, có hiệu quả với các tổ chức: Văn phòng UNDP tại Việt Nam, tổ chức JICA Nhật Bản và nhiều tổ chức bảo tồn di sản thế giới của nhiều nước trong khu vực. Từ các quan hệ trên, nhiều chương trình, dự án đã được thực hiện nhằm trợ giúp cho công tác bảo tồn vịnh Hạ Long, đưa vịnh Hạ Long từng bước hòa nhập vào hoạt động quốc tế trên lĩnh vực này.
5 năm qua, những gì mà Ban quản lý Vịnh Hạ Long làm được là rất đáng kể. Tuy vậy những thành công ấy mới chỉ là bước đầu. Những yêu cầu phía trước rất to lớn. Hiệu lực một số hoạt động quản lý Nhà nước của Ban quản lý Vịnh Hạ Long chưa cao, một mặt do còn thiếu những khung pháp lý cần thiết. Mặt khác, sự phối hợp giữa Ban quản lý Vịnh Hạ Long với các ngành và địa phương có liên quan chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên…
Trước tình hình như vậy, ông Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng ban Ban quản lý Vịnh Hạ Long nêu kiến nghị: một số Quy chế cần được sửa đổi bổ sung và ban hành mới (như Quy định tạm thời về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ cảnh quan môi trường, Quy chế về quản lý và sử dụng vịnh Hạ Long). Về lâu dài, cần có một Nghị định của Chính phủ nhằm thay thế hai văn bản trên để hiệu lực pháp lý được mở rộng và nâng cao cả về không gian, thời gian và phạm vi điều chỉnh. Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Bộ Văn hóa – Thông tin cho phép thành lập Thanh tra chuyên ngành về bảo vệ vịnh Hạ Long trên cơ sở Đội kiểm tra của Ban quản lý Vịnh Hạ Long hiện nay và trao cho đơn vị này thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường.
Thanh Thủy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Cù lao giêng – vùng du lịch sinh thái

Cù lao Giêng là một trong những điểm du lịch nằm ở xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới (tỉnh An Giang) hàng năm đã thu hút khá đông du khách từ khắp nơi đổ về hành hương, ngoạn cảnh (đa số là khách ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn). Cù lao Giêng có gì lạ?
Cù lao Giêng (hay Diên, Riêng, Den, Ven) mà người Khmer gọi “KOH-TENG” là vùng đất cù lao nằm ở giữa sông Tiền, có một bề dày lịch sử rất tự hào, nơi đã ghi lại dấu son lịch sử của phong trào cách mạng từ những năm 1930 với lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép xã Long Điền “A”.
Với cảnh quan thiên nhiên đầy sức quyến rũ của một vùng sông nước cá lội tung tăng cùng vô vàn chủng loại cây trái đặc sản của miền phù sa nước ngọt, Cù lao Giêng còn có những công trình văn hóa và mỹ thuật tiêu biểu như Chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội An (Chợ Mới), đã được Nhà nước công nhận. Hiện nay, bên trong còn thờ những bài vị của các anh hùng liệt sĩ cách mạng dưới hình thức tôn giáo để che mắt giặc trong thời chiến tranh. Cù lao Giêng còn là quê hương của người nữ anh hùng liệt sĩ Huỳnh Thị Hưởng – một “Võ Thị Sáu” kiên cường của An Giang. Trên đất này còn có di tích nhà thờ Cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ) được xây cất từ năm 1877, lớn nhất ở Việt Nam và có trước nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn chừng vài tháng. Tương truyền nơi đây xưa kia là một trong những nơi đóng binh của nhà Nguyễn. Đặc biệt trong khu này có danh lam Thành Hoa Tự, một ngôi chùa với lối kiến trúc sinh động, trên tường được chạm nổi những hoa văn mang nhiều hình ảnh đặc trưng mô phỏng cảnh yên bình thoát tục được khắc họa bởi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vùng Chợ Thủ. Thành Hoa Tự còn gọi là “chùa Đạo Nằm”, được xây dựng vào năm 1953 do sư tổ hòa thượng pháp danh Tịnh Nghiêm, quê ở làng Hòa An (Cao Lãnh) về đây trụ trì. Đến năm 1954 thì Ông viên tịch, hưởng thọ 51 tuổi. Hiện nay trong Bảo Tháp cạnh chùa có đặt thi hài Ông. Là một tu sĩ phật giáo không sáng tác kinh kệ riêng, cũng không đưa ra một phương thức tu tập mới, nhưng hành trang và cuộc đời của ông hầu như đã gắn với nhiều huyền thoại khá ly kỳ từ cung cách sinh hoạt đến dáng đi, giọng nói đều biểu hiện một cốt cách phi phàm!. Và đặc biệt hơn là… nằm!. Có lẽ ông là người chiếm kỷ lục về thời gian nằm ở nước ta. Trong suốt 9 năm khổ luyện ông đã nằm quay mặt vào vách theo tư thế của Đức Phật Thích Ca được gọi là “cửu niên diện bích”. Có phải chăng đây là điều “kỳ lạ” để cho mọi người từ các nơi đổ về hành hương chiêm bái!. Vào ngày giỗ (từ 15 đến 16 tháng 2 âm lịch và các ngày rằm lớn trong năm) có lúc lên tới 10 ngàn lượt người.
Cù lao Giêng đã từng là căn cứ địa của Xứ Ủy Nam Kỳ, nơi phát đi những tín hiệu và mệnh lệnh đấu trang giành quyền sống cho nhân dân ngay từ thời thuộc Pháp. Và cũng chính nơi đây đã sản sinh ra không ít những người con anh hùng trung dũng của quê hương An Giang. Phải chăng từ những di tích và di sản truyền thống quí báo tự ngàn xưa còn để lại cùng những cảnh quan nên thơ hữu tình ấy đã vẫy gọi khách du lịch hành hương từ mọi miền đổ về đây tham quan, thưởng ngoạn.
Hàng năm, vào những ngày lễ, tết và những ngày rằm có đến hàng trăm ngàn lượt người vượt nghìn trùng cây số, vượt sông để sang Cù Lao tham quan viếng cảnh. Trong đề án phát triển du lịch từ nay đến năm 2005, kế hoạch khôi phục và nâng cấp danh thắng Cù lao Giêng ngang tầm với những trọng điểm du lịch khác của tỉnh sẽ được tiến hành đồng bộ, biến nơi đây trở thành điểm hẹn đầy lý thú và hấp dẫn trong tương lai.
Trần Văn Thọ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Vị chát búp chè

Vùng chè Tuyên Quang là vùng chè lớn nhất cả nước. Ở nhiều nơi mỗi năm chỉ sản xuất ra một vài tấn chè đã là điều mơ ước. Trong khi đó ở Tuyên Quang mỗi năm đã xuất ra thị trường trong nước và ngoài nước như Hồng K – ông, Anh tới hàng ngàn tấn, được khách hàng ưa chuộng. Những nương chè nơi đây đã một thời đi vào tâm trí đi vào thi ca biết bao người. Những địa danh nổi tiếng: Lũng Pin, Bó Tuốt, Khan Méet ; Sinh Long , Bạt Tiên với những chè Tuyết, chè Shan, Đại Bạch Trà.
Để rừng chè tồn tại, người trồng chè cũng lắm truant chuyên. Thu nhập của hàng chục ngàn người lao động ở vùng chè Tuyên Quang còn rất khiêm nhường. Theo số liệu chưa đầy đủ của Xỉ nghiệp Nông Công nghiệp chè Tuyên Quang thì mức thu của người lao động chỉ đạt bình quân 170 ngàn đồng một tháng. Trong khi đó sản lượng chè hàng năm trên 5.000 tấn búp, năng suất bình quân là 42.5 tạ/ ha. Trên 4 ngàn ha tổng diện tích cây chè của xí nghiệp vẫn luôn cần tới những bàn tay chăm sóc hái lượm của người trồng chè. Vậy thì, con số 170 ngàn đồng kia so với công sức của người lao động bỏ ra tất là điều đáng phải lưu tâm.
Thị trường của chè và các nhà máy chế biến, là người tiêu dùng trong và ngoài nước. Giá một kg búp tươi sau nhiều biến động của các mặt hàng khác thì vẫn chỉ luôn ở mức 1.500 đồng. Trong điều kiện như vậy việc cải thiện đời sống người lao động xem ra thực khó. Cùng với cái khó của người trồng chè, thì công nhân trong các nhà máy, phân xưởng chế biến chè cũng chẳng hơn gì. Chặng đường của mỗi cân chè thành phẩm vượt đại dương tới Anh Quốc, Hồng K- ông cũng chỉ thu về 1,2 USD. Thử chia 1,2 USD cho tất cả các khâu: thu mua búp, chế biến, cước phí vận chuyển, thuế xuất nhập khẩu và nhiều công đoạn khác nữa thì việc đời sống công nhân còn khó khăn là điều dể hiểu.
Để khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng chè, đòi hỏi phải cải cách các thủ tục để có nhiều đối tác, mở rộng liên kết, liên doanh, tiếp thị nhanh đối với các doanh nghiệp. Cần đổi mới cơ chế, khuyến khích phát triển mô hình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là mô hình tư doanh, trách nhiệm hữu hạn thì mới có thể tiếp nhận tiếp thị nhanh và sản xuất mới mang lại hiệu quả.
Bên cạnh đó cần mở rộng thị trường truyền thống như Nga, Tây Á, I – Rắc, A – Rập… đồng thời cần quan tâm đúng mức tới nhu cầu tiêu thụ nội địa. Muốn có được chữ tín trên thị trường chè đòi hỏi phải có búp chè tốt, tăng năng suất lao động công nghiệp, đổi mới mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Chỉ có như vậy chè Tuyên Quang mới khẳng định được chỗ đứng của mình. Và có như vậy mới nâng cao được đời sống người loa động, họ mới yên tâm vào công việc trồng chè.
Nhận thức được vấn đề này, mấy năm trở lịa đây Xí nghiệp Nông Công nghiệp chè Tuyên Quang đã tiến hành thực hiện chương trình 01 về tiến bộ kỹ thuật chế biến thành phần chè. Chương trình này gồm 2 đề tài cải tiến các khâu vỏ và lên men để nâng cao chất lượng, tỷ lệ 3 mặt hàng chè đen xuất khẩu của nhà máy. Xí nghiệp đã lắp đặt thê, 3 cối vò nên tăng được thời gian vò, lắp thêm 2 máy đẩy không khí từ phòng lên men sang phòng vò; cải tiến lưới sàng tơi; lắp thêm hai máy phun ẩm, quạt đẩy vò theo quy trình 321. Kết quả đạt được độ dập tế bào gần 30%; cánh chè xoăn, chặt gọn, đẹp, đen bóng. Tuy nhiên xí nghiệp vẫn đang còn đối mặt với những tồn tại kỹ thuật nhất là khâu sấy, thiết bị kỹ thuật và quy trình sản xuất chè cũng như nâng cao trình độ tay nghề của công nhân.
Qua thực tế vấn đề nổi cộm ở Tuyên Quang là: Việc tiêu thụ sản phẩm chè trong nhiều năm nay đặc biệt là chè xanh, chè vàng rất bấp bên, giá lại thấp, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa nơi mà điều kiện giao thông vô cùng khó khăn. Diện tích trồng chè nhiều nhưng các doanh nghiệp làm chè xuất khẩu nhiều khi phải khoanh tay bất lực nhìn nguyên vật liệu và sản phẩm của nông dân làm ra trôi nổi tự do trên thị trường vắng bóng người thu gom, quản lý. Điều này đã có tác động tiêu cực là một trong những yếu tố gây thất thu ngân sách địa phương.
Cây chè là nguồn sống chủ yếu của đồng bào ở một số vùng địa phương Tuyên Quang. Việc thả nổi cây chè và sản phẩm của nó khiến người dân phải xoay sở tự chế biến bằng phương pháp thủ công.
Vùng chè Tuyên Quang không chỉ là vùng chè đặc sản nổi tiếng mà nơi đây là địa danh du lịch nổi tiếng với Suối Giàng cùng hàng trăm cây chè cổ thụ gốc to 3,4 người ôm. Bên những gốc chè Suối Giàng đã có nhiều bức hình kỷ niệm của các nhà lãnh đạo Nhà nước và không ít du khách gần xa. Mong sao cây chè rồi đây sẽ trở về với đúng vị trí của nó trong đời sống xã hội, trong đà đi lên của tỉnh miền núi chiến khu này.
Nguyễn Ngọc Dũng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Lễ hội xuân này ở Thái Nguyên

Tôi là người thích vãn cảnh đền, chùa nên thấu hiểu được nỗi khổ ở các lễ hội những mùa xuân trước. Người chen chúc, xô đẩy nhau vào các bàn thờ để thắp hương, mất hết cả sự thành kính. Mỗi người cầm hàng nắm hương cháy đỏ như thế nghĩ rằng, càng thấp nhiều hương thì càng lắm lộc (!), bất cần biết tàn hương đang cháy có thể rơi vào tóc, vào áo người kế bên. Chính vì thế khói hương nghi ngút cứ như người ta… hun chuột ngoài đông vậy. Chẳng ai còn mở mắt được để xem bạn thờ ở hướng nào, nên đành rút lui ra ngoài để thở, hoặc là nhắm mắt vái bừa… Chuyện hái lộc cũng là một vấn đề. Trên đường đến hội đã gặp không ít người về, mang theo những cây, vâng không phải là cành lộc to tướng phía sau xe máy hoặc ô tô. Do vậy, khi tan hội đền chùa cứ như sau bão. Các mầm cây bị bẻ sạch, những lá nào khả dĩ được coi là lộc đều bị hái đi. Tôi cất công lên tận đỉnh núi Đuổm xem “thực địa” thì thấy không một cành cây nào còn ngọn, lá nữa. Vậy mà mấy cô cậu thanh niên vẫn tiếp tục rủ nhau sang ngọn núi bên cạnh trên những mỏm đá cheo leo đầy nguy hiểm… bẻ lộc!
Xuân này chuyện cũ xem chừng khác trước. Người đến hội Đuồm không đông bằng năm trước, phần trùng ngày với hội Gióng (Sóc Sơn), phần thiếu trò vui. Ban tổ chức đã tổ chức việc trồng cây cùng với cấm bẻ cành, hái lộc trên núi. Song, nhưng chưa phải đã chấm dứt hẳn. Ở Hội Chùa Hang việc hái lộc không còn do núi đá hiếm cây. Hơn nữa cũng do ban tổ chức có biện pháp ngăn chặn tích cực. Bù lại, các hàng bán cây cảnh, phong lan, chim ghép từ cây cu li… được bày bán rất nhiều bên cạnh các dãy bàn đồ lưu niệm.
Ở các hội đền, chùa năm nay, tỉnh văn hóa, trong phần lễ được chú ý hơn với các lễ dâng hương lành mạnh. Không có đồng cốt, hầu bóng. Các hoạt động mê tín dị đoan đã hạn chế đáng kể. Hầu hết các lễ hội không có bán thẻ, quẻ, bói toán. Người ta dự lễ được thưởng thức các điệu múa hat do các hội quy trình diễn trong khi tế lễ. Như mọi năm . Chùa Hang giữ được nét riêng: Ngay từ giờ khai hội, các đoàn đại biểu mang vòng hoa viếng các anh hung liệt sĩ trước khi vào chùa dự lễ dâng hương.
Do tô chức chu đáo nên trong hang không còn cảnh khói hương mù mịt như trước nữa.
Trong phần hội, các nơi đã có nhiều hoạt động phong phú. Chùa Hang và chùa Phù Liễn đều được tổ chức chọi gà, chơi cờ tướng, riêng Phù Liễn còn có hội bình thơ là nét riêng, mang tính văn hóa cao. Chùa Hang thêm trò bịt mắt bắt dê (thật), thi vật , hát quan họ… hấp dẫn du khách có lẽ vì vậy mà người về traye hội Chùa Hang đông hơn mọi năm.
Có thể kể nhiều về các lễ hội khi mùa xuân đến, nhưng đêìu ghi nhận qua các hội đền, chùa năm nay là nét văn hóa, sự hướng thương của khách du xuân. Tuy nhiên để các lễ hội ngày càng lành mạnh thiết thực hơ, thiết nghĩ công tác tuyên truyền về ý nghĩa mục đích của mỗi lễ hội cần được làm tốt hơn, sâu rộng hơn. Việc tổ chức các trò vui đa dạng thực sự giữ vị trí quan trọng trong các lễ hội. Bởi đối tượng tham gia lễ hội hè phần đông là thanh niên và họ đến lễ hội với nhu cầu chính đáng là vui chơi giải trí, gặp gỡ, giao lưu. Những lễ hội được tổ chức với các sinh hoạt văn hóa hấp dẫn chắc chắn sẽ bổ ích cho mọi tầng lớp và là lý do để thu hút khách tham quan.
Có một điều xin được nói thêm: Trước đây đi hội Gióng thấy người ăn xin nhiều vô kể, tất nhiên cũng có tìh trạng làm phiền người đi hội. Nhưng gần đây tình trạng đó không còn. Song, những lễ hội ở Thái Nguyên thì ngược lại người ăn xin từ nhiều nơi đỗ về có phần tăng lên. Làm việc thiện tùy tâm là truyền thống tốt đẹo của chúng ta, nhưng đáng tiếc, còn có hiện tượng người ăn xin quấy nhiễu du khách, thậm chí gần như buộc khách phải cho tiền. Ai nấy đều hiểu rằng lễ hội là nơi đón khách thập phương, trong đó không ít khách nước ngoài. Vì thế, làm sao để khi rời hội khách còn lưu những ấn tượng đậm về một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt, chứ không phải là những cảm giác không vui trước những điều chưa thật – cho dù điều đó không mnag tính đại diện. Để có những lễ hội thật vui, thật lành mạnh, đòi hỏi sự cố gắng mọi mặt của Ban tổ chức và chính quyền nơi đó rất nhiều. Hy vọng mùa xuân tới, chúng ta lại được dự những lễ hội mà ấn tượng tốt lành sẽ mãi theo mãi suốt cả năm.
Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001