Làm gì để bảo vệ Di sản văn hóa

Trong một thời gian dài, nhiều nước trên thế giới phải đối mặt với nạn cướp phá, buôn bán trái phép các di sản văn hóa động sản (DSVHĐS) – là những di tích lịch sử, khảo cổ, kiến trúc – nghệ thuật… của ông cha, tổ tiên để lại. Tình hình này vẫn diễn ra nghiêm trọng ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển. Việc chiếm đoạt trái phép không những hủy hoại DSVH của một dân tộc mà kéo theo đó sự mất mát không thể bù đắp về những thông tin lịch sử. Vậy cần làm gì để bảo vệ di sản văn hóa động sản?
Những con số biết nói.
Theo các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới thì ở những đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm là những khu dễ bị nạn cướp phá hoàn thành nhất, bởi tại đây tập trung một số lượng khá lớn các di sản văn hóa động sản. 1/3 lãnh thổ của thổ dân da đỏ Mỹ phải mất mát đáng kể nạn cướp bóc tại các khu vực chôn cất những người Mỹ bản xứ. Rất nhiều tượng đài của khu di tích Ăngko và Banteay Chanan hay các tượng đài, các tác phẩm điêu khắc minh họa thành tựu kinh tế xã hội và nghệ thuật cao của nền văn hóa Khơme đng bị đưa ra chợ lậu ngoại quốc. Nước Pháp hàng năm mất 6.000 cổ vật, Trung Quốc mỗi năm thu lại 8.000 đến 10.000 cổ vật bị thất thoát. Còn Thổ Nhĩ Kì có hơn 130 cổ vật bị đánh cắp có niên đại từ thế kỷ thứ 19 TCN. Các cổ vật của Assyrian, Hittie, Roma, Hylạp bị cướp tại các di chỉ khảo cổ; Peerru mất rất nhiều đồ gia dụng làm bằng gốm sơn, vải và đồ long chim thuộc thời kỳ trung đại. Việt Nam hiện gần có 2.500 di tích lịch sử văn hóa và hàng triệu hiện vật quý trong các bảo tàng, một phần trong số thuộc sở hữu của cá nhân hay bị chiếm đoạt trái phép.
Đâu là nguyên nhân.
Bà Lyndel Prott – Giám đốc Đơn vị tiêu chuẩn Quốc tế, Ban DSVH UNESCO, lý giải điều này là do các cổ vật dân tộc học và khảo cổ học có một giá trị vượt ngoài giá bán trên thị trường. Trên thực tế, nhiều người tin rằng, các cổ vật được lưu giữ trong nhưng ngôi nhà cổ, tòa án, bảo tàng có thể đổi được rất nhiều tiền. Họ bất chấp mạo hiểm tính mạng và tự do để làm bất cứ việc gì. Mặt khác, cổ vật “sống chung” với đồ giả cổ khiến người có trách nhiệm ở các cửa khẩu biên giới cũng khó phân biệt vàng, thay để có biện pháp bảo vệ.
Chuyên gia Heshuzhong – Vụ trưởng Vụ Văn hóa Nhà nước Trung ương Trung Quốc cho biết: chính từ giá trị của các DSVH động sản, mặc dù đất nước ông đã tiến hành nhiều biện pháp để ngăn chặn những làn sóng mua bán trái phép những thứ hàng hóa vốn rất sẵn ở nước này vẫn không ngừng tăng. Còn theo tiến sĩ Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Bảo tồn – Bảo tàng Việt Nam thì, tựu trung là sự sôi động của thị trường đồ cổ trên thế giới đã ảnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến “thị trường ngầm” ở mỗi quốc gia, trong khi các cơ quan chức năng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ cổ vật, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
Làm gì để bảo vệ di sản văn hóa động sản
Bảo vệ di sản văn hóa nói chung và DSVHĐS nói riêng là một nhiệm vụ rất khó khăn và phức tạp, ngoài nỗ lực của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế. Tại cuộc hội thảo “Công cụ của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa động sản” vừa diễn ra tại Việt Nam, bà Gina Barte, Hiệp hội Bảo tàng Đông Nam Á, cho rằng: đội ngũ người bảo tồn di sản cần được đào tạo có chuyên môn cao và có lương tâm nghề nghiệp. Các công tác kiểm kê phải được cập nhật thường xuyên. Sự ngăn chặn nạn buôn lậu DSVH là một trong nhiều lợi ích mà các nước sẽ thu được khi gia nhập ICOM cũng như tham gia vào dự án OBECT ID (Việt Nam đã làm thí điểm ở Đà Nẵng). OBECT ID là một trong những tiêu chuẩn quốc tế nhằm ghi chép và lưu giữ thông tin tài liệu các cổ vật. Giáo sư – Tiến sĩ Lưu Trần Tiêu, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, khẳng định: “Nếu chúng ta không thể thiết lập được cơ sở dữ liệu thông tin về DSVH thì việc phối hợp quản lý giữa các Bộ, các ngành chức năng, giữa Trung ương và địa phương cũng như hợp tác quốc tế để đảm bảo DSVH sẽ trở nên kém hiệu quả. Và để bảo vệ DSVH thì nhất thiết phải tăng cường nhận thức, trình độ hiểu biết đầy đủ giá trị cổ vật đối với dân chúng như UNESCO đã chỉ ra.
Với riêng Việt Nam, là một trong số nhiều nước chưa tham gia công ước nào của UNESCO về lĩnh vực này, các đại biểu chi rằng, vì lợi ích quốc gia, vì mục tiêu bảo vệ DSVH nhân loại, Việt Nam cần thiết trở thành thành viên của các công ước quốc tế về bảo vệ DSVH và tổ chức ICOM . Đồng thời, việc sớm ban hành Luật DSVH trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các Đại biểu Quốc hội trong kỳ hợp thứ 8, Quốc hội khóa X sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ và gìn giữ DSVH ở Việt Nam.
Hồng Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Mai Sao Phong động – cần có sự kết hợp giữa khai thác và bảo tồn

Lạng Sơn lâu nay vốn nổi tiếng là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh với “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”. Một vài năm gần đây, Mai Sao Phong động thuộc huyện Chi Lăng cũng trở thành điểm dừng chân của khách du lịch trong mỗi chuyến tham quan Lạng Sơn.
Mai Sao Phong động – Sức cuốn hút lạ kỳ
Cách thị trấn Đồng Mỏ 6km Mai Sao Phong động (hay còn gọi là hang Gió) nằm trên địa phận xã Mai Sao, là nơi có đông đồng bào dân tộc Tày, Nùng sinh sống. Từ chân núi lên đến cửa động, du khách sẽ vượt qua 393 bậc thang và dừng chân ở sườn núi với độ cao gần 100 mét so với mặt đất. Trước mắt bạn hiện ra khung cảnh núi non trùng điệp, mây giăng giăng ôm ấp núi thật hùng vĩ, tươi đẹp. Phía ngoài cửa động, từng chùm hoa phong lan đủ sắc màu tỏa hương thơm ngào ngạt, là lời chào nồng nhiệt nhất dành cho du khách. Theo con đường bên trái, chúng ta cùng nhau khám phá những điều kỳ diệu của thiên nhiên ở tầng một của Phong động. Đi suốt chiều dài gần 500 mét, bạn sẽ thấy không khí mát rượi và mỗi thạch nhũ với đủ màu sắc xanh, tím, hồng nhạt, vàng, trắng, đem đến cho bạn một sự liên tưởng lý thú. Sau khi tham quan tầng một, du khách quay ra cửa động rồi tiếp tục đi lên tầng hai, tầng ba của động để ngắm nhìn thạch nhũ lung linh sắc màu, trông quyến rũ như những bức họa do các họa sĩ tài hoa tạo ra. Đến với Phong động, du khách đặc biệt thích thú khu nhũ đá lấp lánh như kim cương có hình ruộng bậc thang với tên gọi “ruộng Tiên”. Vượt qua một đoạn vách đá cheo leo, bạn đã lên đến tầng cao nhất của Mai Sao Phong động, nơi có giếng tiên quanh năm tràn đầy nước mát.
Mai Sao Phong động sẽ thực sự thu hút khách du lịch?
Được phát hiện từ cuối năm 1999, khu thắng cảnh này được Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn giao cho Ủy ban nhân dân xã Mai Sao quản lý từ tháng 10/1999 đến tháng 4/2000. Từ tháng 4/2000 đến nay, Mai Sao Phong động do Ban quản lý thuộc Phòng Văn hóa huyện Chi Lăng quản lý. Mặc dù mới được phát hiện nhưng nhờ vẻ đẹp thực có, có lúc khu thắng cảnh Mai Sao Phong động đã đón tới gần 2000 lượt khách tham, quan trong một ngày. Nhưng hiện tại, lượng du khách đến thăm quan nơi đây đang rất vắng. Nguyên nhân có thể kể đến là con đường từ Ủy ban nhân dân xã Mai Sao vào động khoảng 4km chưa được đầu tư nâng cấp, cầu Vòng Kheo thi công từ tháng 10/2000 đến nay chưa xong nên xe du lịch không thể vào được và du khách phải đi bộ khoảng 3km mới vào đến Phong động. Nhưng có lẽ nguyên nhân chính làm lượng khách giảm là ý thức không tốt của một số du khách đã từng đến đây tham quan. Họ viết, vẽ, chạm khắc lên rất nhiều thạch nhũ của động với mục đích “lưu danh cho đời sau” được biết, hoặc ít ra cũng là để có “kỷ niệm” về một chuyến đi thú vị. Thậm chí, chị Thảo ở nhà may Hương Thảo, thị xã Lạng Sơn còn cho biết, chị khắc tên, địa chỉ nhà may của mình lên nhũ đá để quảng cáo cho hiệu may của mình? Và không ít nhũ đá ở thấp, ngang tầm tay của du khách đã bị đập vỡ ngổn ngang dưới nền. Anh Vi Văn Chân, cán bộ Ban quản lý Mai Sao Phong động cho biết: “Chúng tôi đã có nhiều cố gắng để bảo vệ cảnh quan nơi đây, thường xuyên cử người trực trên động, nhắc nhở du khách không phá hoại cảnh quan, rồi có khi mang cả nước nên để cọ những nhũ đá bị bôi bẩn Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cũng rất quan tâm đầu tư phát triển khu thắng cảnh Mai Sao Phong động như lắp đặt hệ thống đèn màu trang trí, lập dự án phát triển cơ sở hạ tầng… Nhưng những lúc khách đông thì không đủ người để trông nom, theo dõi”. Mong sao trong thời gian tới, Mai Sao Phong động sẽ được quan tâm hơn để có thể khai thác tốt tiềm năng sẵn có cũng như được bảo tồn, gìn giữ để khu thắng cảnh này lại tuyệt đẹp trong mắt tất cả du khách tới đây.
Thủy Tiên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Anh Ghulam Kibria

(32 tuổi, người Bangladet)
Tại sao anh lại chọn Hà Nội làm nơi dừng chân?
Không giống như Ai Cập kỳ vĩ, như rừng Amazon nguyên sinh bí hiểm, như lục địa đen nóng bỏng hoang sơ, Hà Nội – Việt Nam phảng phất một vẻ đẹp dịu dàng và duyên dáng. Hà Nội có một hương vị rất đặc biệt, khiến cho người ta cảm thấy thư giãn. Cái cảm giác mong manh, dịu ngọt quen quen, lạ lạ ấy có một sức hấp dẫn riêng thật khó tả.
Có phải vì Hà Nội đẹp, con gái Hà Nội dễ thương, người Hà Nội tận tình, chu đáo?
Thật ra, không phải dịch vụ nào ở Hà Nội cũng đã “chuyên nghiệp”. Nhưng bù lại, lòng mến khách và nhiệt tình của các bạn đã mang lại cho tôi cảm giác thú vị, gần gũi này.
Sống và làm việc ở Việt Nam đã bốn năm, anh không cảm thấy nhớ nhà sao?
Tôi đã khá quen với cơm Việt Nam, thích nhìn phụ nữ Việt Nam mặc áo dài. Tôi mua tặng mẹ và em gái những bộ áo dài Việt Nam. Một số áo dài, một nụ cười duyên dáng là bản sắc riêng của con gái Việt Nam đã để lại ấn tượng khó phai trong tôi.
Chùa thầy có hang cắc cớ
Chùa thầy cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây, là nơi hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Hội chùa Thầy hàng năm tổ chức từ mồng 5 đến mồng 7 tháng ba âm lịch. Ngày chính hội là mồng 7:
“Nhớ ngày mồng 7 tháng 3
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy”
Chùa Thầy có từ lâu đời. Tục truyền rằng, xưa kia thiền su tử Đạo Hạnh (người làng Láng – Hà Nội), sau khi học pháp thuật từ Ấn Độ trở về, dựng gậy tích, ngày đêm tụ tập ở núi Sài (Sài Sơn). Sau đó, đi khắp 4 phương tham thiên vấn đạo. Lúc ngộ được tâm ấn, Thiền sư trở lại núi Sài giảng đạo, dạy học, làm thuốc giúp dân. Thiền sư còn tổ chức những trò vui như: đành vật, đá cầu, múa rối nước … Nhân dân cảm phục, kính mến gọi Thiền su bằng “Thầy”. Vì thế, mới có cái tên: Chùa Thầy, núi Thầy, làng Thầy …
Quần thể núi Sài gồm 16 quả núi lớn nhỏ “(thập lục sơn)”, núi Thầy được coi là núi mẹ. Các núi có tên như: Long Đẩu, Hoa Pháp, Sơn Tượng … như một ổ rồng vờn, chầu về rồng mẹ (nú Thầy). Theo thuyết phong thủy thì chùa Thầy làm ở giữa hàm con rồng, sân chùa là lưỡi rồng. Hai cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều hình cong, là hai mí mắt rồng. Hai ao con là hai mắt rồng. Nhật Tiên Kiều ở phía Đông, vươn qua ao qua đền Tam Phủ. Nguyệt Tiên Kiều ở phía Tây, qua ao rồng lên núi. Hai cầu này do Trạng Bùng – Phùng Khác Khoan (người làng Bùng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây) xây cung tiến chùa Thầy vào năm 1602.
Làng Thầy dưới chân núi Thầy, mang nhiều nét làng cổ Việt Nam. Nơi đây có chùa, có Thủy Đình xây trên hồ long Trì, là nơi tổ chức múa rối nước hàng năm của hội Thầy.
Trên núi thầy có hang Cắc Cớ, hang Hút Gió, hang Bò … Là nơi hấp dẫ du khách. Trên đó còn có chùa Một Mái, động Thánh Hóa, có đền kỉ niệm nhà bác học Phan Huy Chú và nhà lưu niệm Bác Hồ …
Hang Cắc Cớ, tương truyền hơn 1000 năm trước đây, quân của tướng Lũ Gia đánh nhau với giặt Hán, phải rút về trú ở hang, rồi quyên xin ở đây. Đời vua Bảo Đại đã cho xây một bể sương cao 2 m, dung tích 18m3 để tưởng nhớ và suy tôn những vị đó là Thần. Bởi vậy, hang Cắc Cớ còn có tên là hang Thần.
Cắc Cớ, cái tên nghe vừa quen vừa lạ, vừa gian nan hiểm trở, vừa lôi cuốn hấp dẫn như chính tình yêu … Và ai đó, còn gọi hang Cắc Cớ là hang “tình yêu”.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Định hướng chiến lược – Phần 2

Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở Việt Nam sẽ được phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu. Không gian du lịch sinh thái vùng núi và ven biển Đông bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Bắc Cạn, bắc Thái, các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao được chọn khu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên (Lạng Sơn), rừng văn hóa lịch sử Pắc Pó, Trùng Khánh (Cao Bằng), Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn), Hồ Núi Cốc (Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải Phòng.
Không gian hoạt động du lịch sinh thái núi tây Bắc và Hoàng Liên Sơn chủ yếu phần phía Tây Bắc của hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh thái núi cao sa pa – Phanxi băng và Khu bảo tồn Mường Nhé, nơi đang tồn tại 38 loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như Voi, Bò Tót, Gấu chó, Hổ và Sói đỏ.
Du lịch sinh thái Đồng bằng Sông hồng và không gian chủ yếu thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hóa. Các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc Phương, ba Vì, và Xuân Thủy (khu bảo vệ rừng ngập mặn đất ngập nước (Ramsa) đầu tiên ở Việt Nam.
Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung bộ bao gồm phần phía tây Nam nghệ an, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông Nam Thừa Thiên Huế. So với các các nước trong khu vực Đông Nam á, đây là địa bàn được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – kẽ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều khu rừng nguyên sinh có giá trị.
Phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến Khánh Hòa thuộc không gian du lịch sinh thái của vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các hệ sinh thái điển hình của vùng này bao gồm rừng khộp ở Yok Đôn, đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái núi cao Ngọc Linh. Biodup – Núi Bà; hệ sinh thái san hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây Nguyên cực nam Trung bộ xuống đồng bằng Nam bộ với không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Lâm Đồng – Bình Dương – Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu – Phước Bửu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Biển Lạc – Núi Ông (Bình Thuận).
Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh sông Mê K – ông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp, Cù lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc.
Để mục tiêu phát triển du lịch sinh thái trong hệ thống các khu vực bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia thành hiện thực, hiện nay ngành du lịch đang đề nghị thủ tướng chính phủ thúc tiến hình thành cơ chế tài chính đối với hoạt động kinh doanh du lịch ở các vườn quốc gia trên nguyên tắc không bao cấp, tự hạch toán và cân đối lợi ích kinh tế xã hội giữa khai thác du lịch với bảo tồn phát triển môi trường tự nhiên, quyền lợi ích của cộng đồng địa phương. Về tổ chức mô hình một Hội đồng phát triển du lịch tại các khu bảo tồn thiên nhiên cũng sẽ được xúc tiến thành lập.
Sẽ có 4 chức năng chủ yếu cho cơ quan này gồm: Tư vấn cho chính quyền địa phương về cơ chế chính sách và triển khai các hoạt động du lịch trong khu bảo tồn; điều hòa các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị, cá nhân kinh doanh khai thác du lịch với các đơn vị cá nhân có quyền sử dụng tài nguyên sinh thái và cộng đồng dân cư tại địa phương; tham gia thẩm định các dự án du lịch trong các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia.
Hy vọng rằng với những cơ chế, chính sách hữu hiệu du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên, Việt Nam sẽ thu được kết quả khả quan.
Câu đối
– Đi bạc tóc tới chân trời, về đất mẹ quê cha, qua năm tháng phong ba, mới thấu hiểu ngọn nguồn sông núi
– Bước mòn chân góc biển, đén thăm vùng đất tổ, đã trải qua từng bao giông tố, thêm nồng nàn nghĩa nước tình non.
Bùi Hoàng Anh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Định hướng chiến lược – Phần 1

Du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên, định hướng chiến lược trong thế kỷ mới.
Với 107 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2381.791 ha, trong đó có 12 vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa, lịch sử nên Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển du lịch sinh thái. Sự định hình và khởi sắc của du lịch sinh thái ở các địa phương trong thời gian qua là cơ sở và nền tảng để ngành du lịch Việt Nam hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên một cách ổn định và bền vững.
Bức tranh sơ khai
Hệ sinh thái ở Việt nam bao gồm 5 loại điển hình: Hệ san hô, vùng cát ven biển, vùng đất ngập nước, rừng khô hạn và rừng ngập mặn.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và 255 loài ở vùng biển phái Nam. Bên cạnh đó có 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập nước ẩn chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á. Hệ thống rừng đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học với 12.000 loài thực vật (1.200 loài đặc hữu). 15.575 loài động vật (172 loài đặc hữu). Với tiềm năng phong phú và đa dạng nên ngay từ thời gian đầu của quá trình đổi mới đất nước, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam đã được coi trọng. Nếu như năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn lượt khách quốc tế đến các vùng tự nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số tương ứng đã lên đến 620 ngàn và dự ước 1 triệu lượt khách cho cả năm 2000. Bên cạnh đó hàng năm cũng có thêm 3,5 đến 5 triệu lượt khách nội địa ghé vào các vùng tự nhiên. Nhờ vậy doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhieencungx như vùng đệm hiện chiếm khoảng 25 – 30% trong tổng số doanh thu hàng năm của ngành du lịch.
Đánh giá của ông Doug Hendrie Cố vấn trưởng kỹ thuật dự án bảo tồn rừng Cúc Phương, bức tranh du lịch sinh thái của Việt Nam mới ở mức sơ khai, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có về sự đa dạng và phong phú của nó cũng như vị trí của du lịch sịnh thái hiện nay trong khu vực và trên thế giới. Các nguyên nhân cơ bản hạn chế sự phát triển của du lịch sinh thái Việt Nam cũng giống nhiều nước trong giai đoạn đầu của sự mở cửa và hội nhập gồm: thiếu năng lực nghiên cứu quản lý, chưa thống nhất hệ thống điều hành các khu bảo tồn, hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu và chưa đồng bộ…
Diện mạo mới
Du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý kinh doanh không chỉ đối với Việt Nam mà cho tất cả các nước khác trong giai đoạn mở cửa và hội nhập. Chính vì lẽ đó hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều tra cơ bản quy hoạch những vùng tiềm năng như Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phương, Nam Cát Tiên, Yok Đôn, Côn Đảo, Bình Châu – Phước Bửu…
Bùi Hoàng Anh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đã đến lúc phải giảm giá vé xem ca nhạc

Trong một cuộc “họp kín” của giới tổ chức biểu diễn ca nhạc (thường gọi là “ông bầu”) ở phía Bắc, vấn đề giảm giá vé xem ca nhạc cho khán giả (thông qua vấn đề: Điều tiết các hoạt động biểu diễn; Thành lập Hiệp hội các nhà tổ chức biểu diễn; Giảm catse ca sĩ) được bàn cãi, tranh luận khá nhiều. Bởi giảm giá vé là yêu cầu, đòi hỏi của người xem, xong không đơn giản nói giảm là giảm, bởi điều này có liên quan, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mắt xích khác trong hoạt động tổ chức biểu diễn ca nhạc.
Theo các ông bầu, chỉ có thể giảm giá vé nếu catse ca sĩ giảm. Bởi catse quá cao đã khiến việc “kinh doanh” của ông bầu không có hiệu quả (chi phí cho catse chiếm 1/2, đôi khi 2/3 tổng doanh thu), buộc họ phải xoay qua lấy tiền khán giả bằng việc nâng giá vé. Có nghĩa là, giá vé xem ca nhạc của khán giả phụ thuộc vào catse của ca sĩ và nếu giảm được catse thì giá vé sẽ hạ. Các ông bầu cũng đưa ra vấn đề cụ thể giảm catse và đã nhận được những ý kiến khác nhau từ phía ca sĩ: nào là “cơ chế thị trường, ai có tiền người đó được xem” rồi nào là “có thể giảm catse nhưng phụ thuộc vào chương trình: chương trình kinh doanh một “giá”, từ thiện “giá” khác hoặc “nhiều khi ông bầu bảo lấy giá catse thấp vì vé họ bán ra thấp, chúng tôi đồng ý. Nhưng đến khi biểu diễn mới biết vé bán rất cao. Vậy là họ đã “lừa” chúng tôi, ăn lãi quá nhiều”…. Bởi thế, cho chắc ăn, các ca sĩ đã không cần biết giá vé như thế nào, bán hết được hay không, cứ đòi catse cao. Các ông bầu đã bị “quả báo” cho hành những hành động của họ nhưng kéo theo đó, khán giả bị liên quan, chịu giá vé cao. Vậy là từ thái độ “không giảm catse” của các ca sĩ, hy vọng về giảm giá vé cho khán giả trở nên rất “mong manh”: “Ngoài ra, liên quan đến giá vé xem ca nhạc còn có các yếu tố khác như: giá thuê địa điểm, tiền thuê ban nhạc, phối khí….Giá thuê địa điểm, từ tháng 7 sẽ được tính “mềm” hơn ở cung Văn hóa Hữu Nghị và nhà hát Lớn (ở cung Văn Hóa Hữu Nghị là 25% tổng doanh thu, đảm bảo là thuận lợi cho các ông bầu trong trường hợp rủi ro hay không bán hết vé), khác với trước đây có giá thuê cố định khiến các ông bầu rất dễ lố nếu gặp ”sự cố”.
Còn Nhà hát Lớn lại theo thỏa thuận, tùy chương trình phục vụ chính trị, làm từ thiện hay kinh doanh….Nhưng yếu tố cũng chỉ là một phần nhỏ trong việc giảm giá vé, không có tính quyết định. Tuy nhiên, cũng là đáng mừng khi giảm được khoản nào hay khoản nấy.
Thực tế cuộc sống hiện nay cho thấy việc giảm giá vé xem ca nhạc là rất cần thiết vì người dân có quyền được hưởng các sản phẩm Văn hóa của xã hội. Với mức giá như hiện nay 80.000 – 100.000 – 120.000 đồng, rất nhiều khán giả không có khả năng đến rạp vì bỏ tiền mua vé là đứt mất nửa tháng lương (với mức thu nhập bình thường của mọi người là 400.000 đồng). Theo tính toán của các ông bầu, họ sẽ cố gắng tiết chế để giá vé chỉ từ 40 – 70.000đồng/vé (tất nhiên là khi catse ca sĩ giảm). Với mức này, dù vẫn khá cao song phần nào sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận khán giả đến rạp. Song quan trọng nhất, không lệ thuộc vào có giảm catse ca sĩ hay giá thuê địa điểm….. là sự can thiệp của các cơ quan chức năng. Theo nguồn tin từ Cục Nghệ thuật biểu diễn, từ này Cục đang xét xét để có các hướng giải quyết, giúp “một tay” vào việc giảm giá vé ca nhạc. Vậy là việc giảm giá vé chưa thể thực hiện ngay song nó đã hứa hẹn vào một ngày không xa.
Ngọc Huyền – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Quầy bar kiểu hang động

Trong ảnh là một quầy bar rất đặc biệt và ngộ nghĩnh trong một khách sạn ở thủ đô Băng Kốc – Thái Lan. Trên tường của quầy bar này là các ngõ ngách nhỏ được chiếu sáng bằng các loại đèn màu. Phía trên trần của quầy bar này là những nhũ đá nhân tạo trông rất giống nhũ đá thật. Khách hàng đến đây uống rượu, bia hoặc ăn cooktail đều có cảm giác như mình đang đứng hay ngồi trong một hang động thật sự. Quầy bar này cũng tạo không khí mát mẻ cho khách hàng cho nên các loại đồ uống ở đây cũng có thể không cần ướp lạnh. Chính vì vậy mà quầy bar này rất hấp dẫn khách hàng sành điệu.
Nguyễn Trãi ở Đông Quan vở Opera Việt Nam sắp ra lò
Sau các vở nhạc kịch như “Bên bờ Krông – pa” của nghệ sĩ Nhật Lai, “Cô sao”, “Người tạc tượng”.. của cố nghệ sĩ Đỗ Nhuận ra đời vào những năm 70, cho đến nay, do nhiều lý do chủ quan và khách quan nên chúng ta chưa có vở mới dựng cho Opera Việt Nam mà phần lớn chỉ dựng lại những vở nhạc kịch nước ngoài. Với mục tiêu khôi phục lại Opera Việt Nam, Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam đã phối hợp với các nghệ sĩ tên tuổi dựng vở mới “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” theo kịch bản chuyển thể cho Opera của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận viết năm 1980 từ kịch bản văn học của nhà văn Nguyễn Đình Thi viết năm 1979. Khác với Cô Sao chất liệu dân tộc Thái, “Người tạc tượng” chất liệu Tây Nguyên “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” được nghệ sĩ Đỗ Nhuận viết trên cơ sở khai thác chất liệu dân ca Đồng Bằng Bắc Bộ. Vở nhạc kịch gồm 3 màn, dài 120 phút, mô tả lại thời gian Nguyễn Trãi trụ lại Đông Quan sau khi từ Trung Quốc trở về năm 1407 đến năm 1417. “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” là vở nhạc kịch Việt Nam có quy mô lớn được Bộ văn hóa – thông tin và nhà hát Nhạc Vũ kịch đầu tư dàn dựng công phu, tập hợp đông đảo lực lượng đạo diễn, diễn viên tên tuổi trong và ngoài nhà hát Nhà văn Nguyễn Đình Thi tham gia chỉnh sửa kịch bản, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân phối khí và hướng dẫn dàn nhạc, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đình Nghi đạo diễn sân khấu, nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Công Nhạc biên đạo múa cùng các nghệ sĩ như Trần Hiếu, Cẩm Liên, Trọng Thủy, Mai Tuyết, Hồng Lan, Ngọc Định… Theo ông Nguyễn Công Nhạc, giám đốc nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, cho biết: Sau 9 tháng tập luyện, cho đến lúc này Nguyễn Trãi ở Đông Quan đang ở khâu hoàn tất. Hy vọng Nguyễn Trãi ở Đông Quan sẽ ra mắt khán giả thủ đô vào dịp tết dương lịch năm 2001. Với sự dàn dựng quy mô, hoành tráng cùng tài nghệ của các nhà đạo diễn nổi tiếng, dàn diễn viên xuất sắc Nguyễn Trãi ở Đông Quan sẽ là món quà quí giá tặng công chúng nhân chào đón Thiên niên kỷ mới, chào đón 1 nghìn năm Thăng Long và cũng là một mốc son đánh dấu sự phát triển của Opera Việt Nam.
Mốt chào xuân
Mùa xuân làm bừng lên nét vui tươi, hồ hởi trên gương mặt thiếu nữ. Ai cũng như cảm nhận được cái không khí rộn ràng, ấm áp và giàu chất thơ của mùa bắt đầu cho một năm mới. Chào xuân về, chúng tôi xin gửi tặng bạn các mẫu trang phục đẹp đón xuân.
Lê Văn Tấn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

8 dự báo về tiến bộ của khoa học thế kỷ 21

Sự phát triển sinh sản vô tính
Đã 42 năm trôi qua từ năm 1978, kể từ khi em bé đầu tiên trên thế giới ra đời nhờ thụ tinh trong ống nghiệm. Nay đã có khoảng 100 nghìn em bé như thế cũng được sinh ra tại Mỹ. Kiểu sinh này vẫn còn được để ý tới dù có rất nhiều ý kiến bởi người ta mong muốn có những hậu duệ tốt nhất. Trong thực tế, sinh hoạt tình dục vẫn tồn tại vì nó mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng con người cũng ghi nhận được những sinh vật ra đời mà không cần giao phối như rệp vừng, cây bồ công anh ở Trung Quốc. Và vì thế người ta hy vọng đến năm 2025 sẽ có một phiên bản vô tính bằng người mà bằng xương bằng thịt được ra đời. Người ta sẽ tạo ra một con người mới từ các tế bào cơ thể mà không cần sự giao hợp để dẫn đến thụ tinh. Sinh sản vô tính là phương thuốc tuyệt vời cho những ai muốn di truyền cái đẹp thông qua người mang thai hộ. Nhưng, lúc đó mối tương quan chặt chẽ giữa các cơ quan tình dục và cơ quan sinh dục sẽ bị phá vỡ. Tình dục và tình mẫu tử không phải lệ thuộc vào nhau nhiều nữa. Và khi đó tình dục cũng mất dần đi, cũng có nghĩa sẽ vắng tiếng chim hót du dương gọi bạn tình, hoa sẽ thôi không xòe cánh để mời hương phấn.
Dược phẩm mới
Người ta hy vọng rằng trong thế kỷ 21 tới, sẽ có một loại dược phẩm thay thế các hóa dược ngày nay. Lúc đó bên cạnh những loại vác xin, kháng sinh, gen liệu pháp là dược phẩm mới. Tất nhiên, dược phẩm thay thế và phương pháp trị liệu thay thế không được nhuốm chất ma thuật. Tất cả những loại thuốc xuất thân từ thảo mộc phải được ghi đầy đủ thông tin để khách hàng kiểm tra và chọn lựa. Một vài trường Y phương Tây đã mở các khóa học tìm hiểu về những loại dược thảo hoặc động vật giúp các học viên phân biệt đâu là tác dụng thật của thuốc, đâu là những lời đồn thổi. Người Mỹ đã phải bỏ ra 30 tỷ đô la mỗi năm cho các phương thuốc trị liệu chưa từng có trước đó. Tuy nhiên một số người vẫn dự đoán Tây y tiến bộ, Mỹ sẽ quay trở lại với những loại dược phẩm hiện đại.
Gen sống thọ
Trong thiên niên kỷ mới, con người sẽ sống thọ hơn. Điều đó có vẻ như đã được các nhà khoa học nắm trong tay. Nhà khoa học Seymour Benzer thuộc Viện công nghệ California của Mỹ đã khám phá ra một loại ruồi dấm còn gọi là nhặng trái cây, đột biến sống hơn 100 ngày. Như vậy là chúng đã thọ thêm 1 phần 3 thời gian so với chủng loại. Điều khác biệt mà Benzer tìm thấy là một gen đơn độc gọi là methuselah. Benzer nghĩ tới con người, hy vọng là một ngày nào đó gen methuselah sẽ được đưa vào cơ thể để con người có được tuổi thọ cao hơn.
Chưa được bệnh ung thư
Ở thế kỷ 20 người ta đã tìm ra nguyên nhân của căn bệnh nguy hiểm này. Nó không phải do trầm uất hay ức chế tình dục mà do các gen bị đột biến. Khối u hình thành khi một tế bào chịu ít nhất là hai đột biến về gen. Các bác sĩ tin rằng trong 10 năm nữa họ sẽ tìm ra khối u ngay khi nó mới hình thành. Và 25 năm tới, một loại thuốc sẽ ra đời để chế ngự sự phát triển của một số bệnh ung thư thậm chí là chữa khỏi.
Cấy ghép não
Đến nay cấy ghép não vẫn còn là chuyện không tưởng nhưng tiến sĩ Evan Snyder, nhà khoa học thần kinh trường Y, đại học Harvard đã không loại trừ khả năng này có thể thực hiện được trong tương lai. Có thể sẽ là 10 năm, 20 năm,… hoặc xa hơn nữa bởi não chứa quá nhiều tế bào thần kinh phức tạp. Không dừng lại ở đó, mới đây Snyder đã đưa ra một tia hy vọng bằng cách trích các tế bào mầm thần kinh từ phôi thai và sản xuất ra hàng loạt trong phòng thí nghiệm. Ông hy vọng khi cấy các tế bào mầm thâm canh này vào não người, chúng sẽ thay thế các tế bào não đã bị chết hay bị bệnh. Nhưng tất cả vẫn là hy vọng, tin rằng những điều này chúng ta có thể làm được trong thế kỷ này.
Tài Lộc -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Giám đốc khách sạn – Phần 3

Nghĩa là tất cả những sở thích quen thuộc của Thành mà với nó gần như là máu thịt mà má anh mỗi khi có điều kiện đều làm cho anh ăn, đều được bày ra ở đây. Thành càng ngạc nhiên hơn bởi thái độ săn đón của cô Kim. Anh chờ cho người dọn bàn bưng đĩa cuối cùng ra khỏi bàn, anh hỏi:
-Cô Kim, có phải tất cả cán bộ công nhân viên đều được ăn như vậy chứ ?
Có lẽ cô ta biết sẽ có câu đó, ông Giám đốc nào mà chẳng hỏi cho có lệ, còn ăn thì vẫn cứ ăn; cô ta nhếch mép, nụ cười nửa môi, cục thịt ở má lồi ra rung rung:
-Làm gì có thưa Giám đốc, chỉ một mình Giám đốc thôi.
-Bữa ăn như vậy hết bao nhiêu tiền ?
Cô ta trả lời giọng giễu cợt:
-Chẳng có bao nhiêu cả, chỉ vài đồng.
Thành không ngờ, anh choáng váng, vị ngon của bữa ăn bỗng biến đi đâu mất, chỉ còn lại là sự đắng chát. Người ta ai cũng cần ăn để sống, cần ăn ngon, càng ngon càng tốt và chính vì vậy mà ngành khách sạn và nhà hàng ra đời; nhưng trong cái mớ bòng bong của kinh doanh thì sự lợi dụng để được ăn ngon, để được hưởng cái đặc quyền của biết bao vị có quyền mà đâu có vị có quyền lực nào từ chối bữa ăn mà người ta tự nguyện mang tới. Thành nghiệm ra rằng chẳng có người nào bỏ tiền túi ra để cho cấp trên ăn, để mua quà cho cấp trên. Họ sử dụng tiền của nhà nước và độc quyền bằng tiền của nhà nước để độc quyền cho lợi ích của cá nhân mình. Anh vô cùng bối rối, thức ăn ngon miệng đã vào hết trong dạ dày, lại không muốn mình trở thành một khúc gỗ biết di động một cách máy móc do người ta bày đặt ra sẵn trong bộ não vốn nhạy cảm của anh. Nó sẽ rất dễ biến anh từ một con người đa cảm trở thành một người đạo mạo, đạo đức, mẫu mực chỉ biết có mình, anh ta sẵn sàng hạ thủ tất cả những ai cũng dưới chiêu bài “phẩm chất” một cách cứng đờ. Thành đang đứng trước sự lựa chọn hoặc là la hét để được tôn vinh “đạo đức” hoặc là trở lại với con người bản năng: thích ăn ngon, gái đẹp mà không phải tốn tiền. Ở vào môi trường đầy cám dỗ này việc ăn ngon, biết chơi bời là điều người ta không phải giả đò hay ngượng ngập, nó đã trở thành chai lì, nó trở thành tự nhiên mà đôi khi nếu có ai đó giả vờ không biết hoặc không biết thực sự lại bị chế giễu. Thành biết rất rõ điều đó, sự lựa chọn của anh giữa cái sống chân thật đúng với bản chất vốn có của anh và sự biến chất để anh trở thành con người biết chơi bời, hưởng thụ và modern chỉ trong gang tấc….
Sau khi uống ly nước soda chanh do người phục vụ bàn mang ra, anh gọi người phụ trách nhà hàng:
-Ở khách sạn của ta, anh em ăn cơm ở đâu?
-Dạ, ở trên lầu 7 – Cô phụ trách phục vụ bàn trả lời, Thành hỏi tiếp:
-Bây giờ đã đến giờ cho anh em ăn cơm chưa ?
-Dạ, đang ăn ạ.
Thành cám ơn người phục vụ, anh ra thang máy lên ngay lầu 7, thấy anh bước vào, bà nấu bếp mặc quần đen đang xắn lên quá gối, áo công tác màu xanh lơ, bà vội kéo quần xuống, lễ phép:
-Mời Giám đốc ăn cơm.
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Giám đốc khách sạn – Phần 2

Vậy mà sau 25 năm nó trở nên điêu tàn, toàn bộ hệ thống vệ sinh đã hoàn toàn hư hỏng, hệ thống nước nhiều nơi bị bể nước chảy tràn thấm xuống các phòng ngủ nham nhở như tấm da báo chỗ đen chỗ trắng. Thành đứng lặng rất lâu trước các căn phòng một thời nó được gọi là khách sạn, chiếc table de nuit bị sứt mẻ, ở giữa chiếc ngăn kéo lẽ ra là một tay nắm bây giờ trơ ra một lỗ tròn nham nhở, nó nằm ở giữa hai chiếc giường mộc trải chiếu, phía trên là chiếc quạt trần tróc sơn bám đầy bụi đang quạt những vòng tròn chậm chạp không đủ sức gió cho người ngồi ngay dưới nó chứ nói gì nằm ngủ. Toàn bộ máy lạnh đều bị hư, cái lỗ để những chiếc máy lạnh người ta đã bịt lại bằng gạch, bằng gỗ nhếch nhác…Thành buột miệng: “Trời ! Đây là khách sạn sao ?” Anh nhớ lại cái thuở anh còn là người lính, doanh trại của anh tuy nghèo, nhưng đâu ra đó, nơi để súng mũ, trên giường chiếc chiếu trải sạch sẽ, và ở đầu giường chiếc khăn được xếp gọn gàng vuông vắn mà thời đó các anh còn đùa nhau “Chớ có đụng vào mép chăn, đứt tay đấy”. Còn ở đây, vậy mà nó được gọi là khách sạn…
-Mời Giám đốc xuống ăn cơm.
Cô phục vụ phòng lễ độ và có phần sợ sệt, cô vừa nhận được điện của nhà bếp, cô bước qua một bên; Thành rời căn phòng bước vào thang máy dành cho nhân viên, anh bấm nút có chữ G, đèn đỏ hiện ra và chiếc thang rùng mình đưa chiếc thùng sắt chạy xuống cho đến khi đụng chiếc lò xo lớn bên dưới cùng nghe một tiếng kêu “cạch”, Thành lại bấm tiếp một nút nữa cánh cửa mới mở ra, anh vội vàng bước ra khỏi thang vì nghe đâu loại thang máy này mà lơ mơ đang bước ngang đúng lúc nó tự đóng, cánh cửa đập mạnh vỡ mặt như chơi.
-Mời Giám đốc ăn cơm.
Cô Kim nhanh nhẩu mời Thành, vừa quay đầu xuống bếp nhắc cô nấu bếp với vẻ sốt sắng:
-Mau lên, mang đồ ăn….
Thành ngồi vào bàn ăn dành cho khách của khách sạn, mâm cơm được dọn ra đủ dinh dưỡng cho một phi công. Món nào cũng còn bốc khói: có canh, đồ mặn, một đĩa thịt bò xào hành tây, và cả một ly soda chanh. Bữa cơm đầu tiên anh ăn ở khách sạn để lại cho anh ấn tượng rất mạnh, các món ăn đều rất ngon miệng, anh rất hài lòng và một cảm giác khoan khoái anh cảm nhận được sau bữa ăn rất rõ, có lẽ lâu lắm rồi anh mới được ăn một bữa ăn ngon như vậy.
-Thưa Giám đốc, Giám đốc ăn có ngon miệng không ạ ?
-Ngon lắm, cảm ơn các cô.
Thành hài lòng về kỹ thuật nấu ăn, nhưng trong linh cảm anh thấy có điều gì đó không bình thường trong bữa ăn của anh. Mâm cơm được dọn với một cung cách hết sức đặc biệt, trên chiếc bàn hình chữ nhật chỉ riêng thức ăn đã gần kín bàn chưa kể đĩa ớt là món ăn mà Thành rất thích đó là loại ớt hiểm trái xanh mỗi khi cắn giòn rụm chẳng hiểu sao cũng có tại khách sạn này; một đĩa rau sống và có cả đĩa nước mắm loại rất đặc biệt chấm rau, chấm món thịt bò xào rất ngon.
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999