Cổ đô – làng của những bất ngờ

Cổ đô là một làng Việt Cổ, đất văn vật, có lịch sử lâu đời. Những rìu đồng thời Đông Sơn cách ngày nay chừng 2300 năm, được khai quật ở vùng đất này là một minh chứng về trình độ văn minh cao của tổ tiên chúng ta, tương ứng với nền văn minh và lịch sử văn hóa của loài người.
Ở bên này bờ sông Hồng, đối diện với thành phố Việt Trì, Cổ Đô xưa kia thuộc Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì Hà Tây). Cổ Đô là vùng đất nằm kề đất tổ Phong Châu, kinh đô xưa của các vua Hùng. Lạ lùng thay, ở một vùng đất ven sông nhỏ bé khuất nảo, lại tụ hội quá nhiều di tích, sự tích và nhiều chuyện bất ngờ. Nói bao nhiêu cũng không hết. Vĩ như Cổ Đô xưa vừa là đất khoa bảng với các văn nhân kì tài xuất chúng (Tiến sĩ Nguyễn Sư Mạnh, tiến sĩ Nguyễn Bá Lân…) lại là đất các võ tướng anh hùng (Vũ Danh Minh, dòng họ Nguyễn Thông mấy đời làm tướng…) nay Cổ Đô vừa là “làng họa sĩ”, “làng thi sĩ” vừa là xã anh hùng…
Rẽ vào ngõ nhỏ, định hỏi thăm đường vào nhà họa sĩ Tốt, giật mình khi nhìn thấy bức hoành phi, đã phôi phai bởi thời gian, treo trong căn nhà thờ cổ, nét chữ của một tuyệt bút: “Lưỡng Quốc thương thư”. Hỏi chuyện ông Nguyễn Văn Lũng 46 tuổi, hậu duệ đời thứ 18 của Đệ nhị giáp Tiến sĩ, Hàn lâm viện trưởng Đông các loại học sĩ, Lễ bộ thượng thư Nguyễn Sư Mạnh, ông cho biết đền thờ họ Nguyễn này được xây dựng từ năm 1756. Trong đền thờ có khá nhiều câu đối, tôi chú ý đến hai câu.
Vì cực nhân thần thiên hạ hữu
Thượng thư lưỡng quốc thế gian vô
(đại ý: Làm quan đến cực phẩm (triều đình) thiên hạ có
Làm quan thượng thư hai nước thế gian không
Câu đối nhắc đến sự tích khi ông được Vua Lê Thánh Tông cử sang sứ nhà Minh. Vào chầu lỡ tuột cúc áo, hở bụng, vua Minh cả giận, ông nhanh trí tâu: do đi đường quá xa, chữ trong bụng ẩm ướt, gặp trời nắng nên mờ cúc áo để hong cho khô, chứ không dám “khi quân phạm thượng”. Vua Minh thử tài trí ông bằng nhiều cách lắt léo, ông vượt qua cuộc “khảo hạch” một cách vinh quang.
Cổ Đô là đất học, giai thoại về cha con tiến sĩ Nguyễn Bá Lân nhiều người biết đến. Cha Nguyễn Bá Lân là Nguyễn Công Hoàn một người hay chữ có tiếng trong kinh ngoài trấn, ông là một trong “Tràng An tứ hổ” (thời Lê, Trịnh) “nhất Quỳnh nhì Nham, tam Hoàn tứ Tuấn”.
Nguyễn Bá Lân chỉ học một thầy, đó là cha mình, cậu bé thần đồng của Cổ Đô ấy sau đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Hợi, niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731). Trong cuộc đời làm quan, ông đã từng làm thượng thư, bộ Công, bộ Lễ, bộ Hộ… hàm Thiếu bảo, bậc Ngũ Lão Hầu Chúa. Nguyễn Bá Lân là tác giả của bài “Ngã ba Hạc phú”, một bài Hán – Nôm nổi tiếng trong lịch sử văn chương thế kỉ XVI – XVII… Xin gợi lại một chút cảm nhận đa tình của người nghệ sĩ.
“Ba góc bờ tre văng vẳng, huyệt Qui Kim chênh hèm đá gập ghềnh.
Một chòm bãi cỏ phơ phơ, hang Anh Vũ thấu lòng sông huyếch hoác”
Ông Nguyễn Xuân Vân, cháu đời thứ 19 của Nguyễn Bá Lân, hiện giữ cuốn gia phả do chính Nguyễn Bá Lân và con trai là Nguyễn Bá Uông soạn, có nhiều chi tiết lịch sử khá lí thú.
Cổ Đô không những là đất văn còn là đất võ. Cổ Đô có Vũ Danh Minh một dũng tướng đời Trần là người có tài theo lược, đền miếu sử sách còn ghi công đức của ông. Gia phả dòng họ kinh lược sứ Nguyễn Thông cho ta biết một dòng họ nhiều đời võ tướng được vua ban tước bá tước hầu.
Cổ Đô ngày nay nổi lên là làng họa sĩ với thị trường tranh khá sôi động. Vọt xe trên đê qua làng quê Việt Nam khác. Ấy thế mà lại có sức hấp dẫn với các vị khách nước ngoài. Các vị đó từ tham tán sứ quán Italia, đến các nhà sưu tập Pháp, Mĩ, Hà Lan, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ… vượt qua bao ổ gà ổ trâu bụi đường để đến với làng tranh này. Mà cũng đúng thôi, ở đây có tranh đẹp của các họa sĩ nổi tiếng giá cả lại hợp với sức mua của người sưu tập tranh. Ít thấy một làng nhỏ lại hội tụ nhiều họa sĩ là hội viên của Hội mĩ thuật Việt Nam đến như vậy: Sĩ Tốt, Trần Hòa, Ngọc Thiết.
Các họa sĩ sống ở làng giản dị, dân dã, tôi có cảm giác đó là người nông dân họa sĩ, người lính họa sĩ mặc dù biết rằng mấy anh đều đã tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật…
Cuộc sống nơi thôn dã, phơi lúa, băm bèo cấy giặt không xa lạ với các anh. Dòng sông con đò cây đa bến nước gần gũi với các anh, máu thịt với các anh. Và đó cũng chính là một mảng đề tài rất sinh động mà các anh thường biểu hiện. Ba loại tranh bán được cho người nước ngoài là: tranh thuốc nước (vẽ trên lụa, giấy Dó), tranh sơn dầu, tranh bột mầu (hội họa, đồ họa). Tranh của họa sĩ Sĩ Tốt (80 tuổi) giá thường là 800-1000 USD, Trần Hòa 500-700 USD bình thường cũng khoảng 50-100 USD (anh có trên 1000 bức). Họa sĩ La Vuông (1959) hiện có khoảng 300 tác phẩm. Từ 1994 đến nay bán được 100 tranh cho người nước ngoài. Tranh của anh tinh tế, trong trẻo đằm thắm và rất “sâu” nên đã tham dự triễn lãm quốc gia và quốc tế một số bức được lưu giữ trong bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam, trong nhiều sưu tập cá nhân (Mĩ, Hà Lan…) Tham tán Sứ quán I-ta-li-a Lu-xi-a Gio-ri viết: Từ nước Ý xa xôi tôi sang công tác tại Việt Nam, hội họa Việt Nam làm tôi say mê ngay từ những ngày đầu tiên. Tôi đặc biệt thích phong cách Việt Nam làm tôi say mê ngay từ những ngày đầu tiên. Tôi đặc biệt thích phong cách của 2 họa sĩ làng Cổ Đô: Sĩ Tốt, Trần Hòa. Bộ sưu tập tranh của tôi gồm nhiều tác phẩm của hai họa sĩ này”.
Cổ Đô – vùng quê cổ kính văn hiến bình dị, mang đậm nét văn hóa vùng sẽ còn cho chúng ta biết nhiều điều bất ngờ thú vị nữa!.
Nguyễn Trung Sơn – Tuần du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Chân dung lữ khách Khuất Nguyên, kẻ đi đày giữa quê hương

Khuất Nguyên còn có tên là Khuất Bình, sinh năm 340 và mất năm 278 trước Công Nguyên, người nước Sở, từng làm chức Tả đô dưới thời Sở Hoài Vương. Nhưng ông làm quan không được lâu. Bên cạnh ông có Thượng Quan, một nịnh thần lấy gièm pha người trung nghĩa làm kế tiến thân. Khuất Nguyên bị Sở Hoài Vương nghi ngờ, bắt đi đày lên Hán Bắc. Giận vua, hận đời, đau buồn về nỗi người ngay thẳng không có chỗ dung thân, ông viết tập thơ Ly Tao ở chốn đi đày. Đây là tập trường ca tuyệt tác của văn học Trung Hoa, còn chói lọi mãi đến ngày nay. Tư Mã Thiên đã không nén được lòng khâm phục khi ông nhận xét về Ly Tao: “Văn ông ngắn gọn, kín đáo, chí ông trong sạch, nết ông thanh cao. Nết ông cao nên dù chết cũng không được dung nạp. Ông thoát khỏi cái thế giới bùn lầy như con ve bỏ lốt ở nơi dơ đục, để cất mình ra khỏi đám bụi trần, chẳng cho đời làm dơ bẩn. Suy cái chí ấy thì ông có thể sánh mặt trăng mặt trời”. (Truyện Khuất Nguyên – Sử Ký – Phan Ngọc dịch).
Khi Trương Nghi múa bá tấc lưỡi lừa Sở Hoài Vương chuyện hiến đất Thương Ư, biết vua Sở giận mình bầm gan tím ruột chực bắt để giết, y còn muối mặt sang Sở lừa lần nữa, dùng tiền bạc vua Tần cấp để mua chuộc đại thần nước Sở là Cận Thượng và thiếp yêu của Sở Hoài Vương là Trịnh Tụ, cuối cùng y thuyết phục được vua Sở hòa hiếu với Tần, ly gián được sáu nước hợp tung. Khuất Nguyên tuy đã bị thất sủng nhưng đã nhìn thấy con đường suy vong của nước Sở, ông khuyên vua nên giết Trương Nghi. Nhưng đã muộn. Về sau Tần cùng chư hầu đánh Sở thua, Tần Chiêu Vương muốn họp mặt với Sở Hoài Vương. Khuất Nguyên lại can vua đừng đi. Nhưng vua Sở lại lần nữa không nghe lời trung nghĩa. Mắc mưu vua Tần, ông vua tham đất không còn đường về, cuối cùng chết ở đất Tần.
Khuất Nguyên ôm mối hận ngàn thu mong ngóng vua Sở trở về, nước Sở thịnh vượng. Nhưng đó chỉ là khát vọng của một kẻ đi đày, không có tiếng lòng đáp lại mảy may. Chẳng những thế mà vua mới Khảnh Tương vương cùng bọn gian thần Thượng Quan tìm mọi cách hãm hại nhà thơ. Khuất Nguyên bị đày biệt xứ lần nữa. Lần này ông phiêu bạt xuống Giang Nam, qua hồ Động Đình đến vùng Thần Dương, Tự Phố rồi treo sông Tương đến Mịch La, con sông nhận xác ông về với cát bụi. Tư Mã Thiên có chép lại ngày sông cuối cùng của Khuất Nguyên qua câu chuyện giữa nhà thơ và ông lão đánh cá. “Khuất Nguyên đến bờ sông, xõa tóc đi, ngâm nga trên bờ đầm, sắc mặt tiều tụy, hình dung khô héo. Một ông lão đánh cá gặp, hỏi: “Vì sao tam lư đại phu đến nông nỗi này?” Khuất Nguyên nói: “Tất cả đều nhơ đục, chỉ một mình ta trong. Tất cả mọi người đều say, riêng một mình ta tỉnh. Cho nên ta bị đuổi đi !”. Bèn làm bài phú Hoài Sa, đoạn ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La mà chết”. Hôm ấy là ngày 5 tháng 5 m lịch.
Nguyễn Du vĩ đại, trên đường đi sứ Trung Quốc năm 1813, qua sông Tương đã làm 3 bài thơ chữ Hán vào loại tuyệt tác để điếu Khuất Nguyên. Nhà thơ, tác giả truyện Kiều cay đắng viết: “Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan – Đại địa xứ xứ giai Mịch La…” (Đời sau ai ai cũng đều là Thượng Quan – mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La). Và nhà thơ hỏi: Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh? Nghìn thuở ai thương người tỉnh một mình đây ?
Song n – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng được nhận huy chương “vì sự nghiệp dân số”

Ngày 14-9-1999, tại Hà Nội Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng đã vinh dự đón nhận Huy chương “Vì sự nghiệp dân số” của Ủy ban Quốc gia Dân số – Kế hoạch hóa gia đình trao tặng. Phát biểu tại buổi lễ trao Huy chương, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia Dân số – Kế hoạch hóa gia đình Trần Thị Trung Chiến đã đánh giá cao những đóng góp của Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng trong thời gian trực tiếp tham gia công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, cũng như trên cương vị hiện nay. Những đóng góp đó đã góp phần đáng kể vào thành tích chung của công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình toàn quốc đã được Liên hiệp, quốc ghi nhận bằng việc trao giải thưởng cao quý năm 1999 cho Ngành Dân số – Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam.
Thở than đến bao giờ?
Một khu ruộng hoang ? Không, xin thưa – đó là “dung nhan” của thắng cảnh hồ Than Thở nổi tiếng ở Đà Lạt.
Ngày xưa khi đến với Đà Lạt, du khách thường mềm lòng bởi câu ca:
Đà Lạt có thác Cam Ly
Có hồ Than Thở người đi sao đành
Cách đây hơn 1 năm, Báo Tuần Du Lịch đã có đăng phóng sự: “Thở than bên hồ “Than Thở” (Báo Tuần Du Lịch số 24 ra ngày 15-6-1998) cảnh báo về sự xuống cấp và biến dạng của thắng cảnh này. Vậy mà ngày 30-8-1999 vừa qua khi đến đây, du khách Nguyễn Cao Vân (ngụ tại 134/109/78 Lý Chính Thắng Phường 7 Quận 3 – Thành phố Hồ Chí Minh) lại được chứng kiến lời than thở còn buồn hơn ở hồ Than Thở. Không biết lời than thở này vang mãi đến bao giờ ?
“Phó nháy” đẹp nhất tháng qua
Trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9-1999, Báo Tuần Du Lịch đã lần lượt giới thiệu ảnh của các “phó nháy”: Dạ Vũ, Trần Phúc Đồng, Nguyễn Bắc Sơn, Anh Duyệt (2 ảnh), Hoàng Ly trên các số báo: 32,33,34,35,36,37. Theo “lệ làng”, Ban Biên tập báo đã chọn và quyết định trao giải cho tác giả Hoàng Ly – Hà Nội, với tác phẩm “Giã biệt mùa hè” đăng trên báo Tuần Du Lịch số 36.
Tây Ninh: đầu tư hơn 17 tỷ đồng xây dựng hệ thống máng trượt núi Bà Đen
Tỉnh Tây Ninh vừa đầu tư hơn 17 tỷ đồng để xây dựng một hệ thống máng trượt bằng inox phục vụ khách du lịch tới thăm quan khu di tích núi Bà Đen. Hệ thống máng trượt này sẽ có chiều dài 1.800 m với 325 trụ đỡ và 130 xe trượt có công suất phục vụ 300 lượt người/giờ. Hiện Công ty du lịch Tây Ninh đang gấp rút thi công để có thể đưa công trình vào sử dụng phục vụ du khách đúng dịp lễ hội mùa xuân Núi Bà Đen năm 2000.
B.N – Tuần Du Lịch – Số 38(90) Từ 20-27/9/1999

Hội nghị toàn quốc biểu dương các khu dân cư tiên tiến xuất sắc

- Ngày 28/6, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã tiếp Hoàng tử Nhật Bản A-ki-si-nô và Công nương đang ở thăm hữu nghị chính thức nước ta.
– Ngày 29/6 tại Hà Nội, 126 đại biểu đã tham gia dự “Hội nghị toàn quốc biểu dương các khu dân cư tiên tiến xuất sắc”. Đồng chí Phạm Thế Duyệt, UVTV,TT Bộ Chính trị đã đến dự và phát biểu ý kiến tại Hội nghị. Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đã gặp mặt thân mật các đại biểu dự Hội nghị.
– Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu sẽ đi thăm chính thức nước Cộng hòa Cu Ba theo lời mời của vị đứng đầu Đảng, Nhà nước Cu Ba, Phi-đen Xa-xtơ-rô Ru-giơ
Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh sẽ đi thăm hữu nghị chính thức Iran và Ai Cập theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội hai nước này.
Lệ phí kiểu… bắt bí?
Bác Lê Văn Tâm hành nghề lái xe du lịch chở khách đã mấy chục năm, địa chỉ của bác ở 126/1 Phan Chu Trinh, TP Huế.
Với vẻ mặt cam chịu, bác Tâm nói với tôi: “Nè anh nhà báo, xin đôi điều về giá vé thu lệ phí cầu đường để anh xem nhé. Cùng một xe con (xe 4 chỗ ngồi của tôi) mà ở trạm Chư Á (Gia Lai) giá vé thu phí là 7.000 đ, ở Bình Định 7.000 đ nhưng ở Phú Bài (Huế) là giá vé thu lệ phí cầu đường lại gấp đôi là 15.000 đ, nhà báo thấy có lạ không?”
Tôi đang còn suy nghĩ thì bác Tâm rút túi đưa cho tôi một xấp vé thu lệ phí có ghi giá hẳn hoi. Trên một tấm vé còn ghi cả số xe của bác là 75H-2718.
Bác Tâm tiếp lời: “Nếu chở một người khách về sân bay Phú Bài thu được 60.000đ/chuyến, thì trừ vé thu lệ phí cầu đường – đóng 2 lần (đi và về) 30.000 đ, phí bến bãi của cụm cảng sân bay miền Trung 4.000 đ, tiền xăng hết khoảng 25.000 đ, còn lại 1.000 đồng thì xe và người sống làm sao đây?”
Thu lệ phí cầu đường là một chủ trương đúng đắn và là một công đoạn bắt buộc trong hình thức đầu tư BOT. Ngoài ra, trong khi còn khó khăn, thì thu phí giúp giải việc nhiều mặt về ngân sách (để có thể dùng bảo dưỡng, tái sản xuất…)
Tuy nhiên, việc giá vé thu phí cầu đường chưa đồng đều nơi này, nơi khác sẽ ảnh hưởng đến tâm lý phục vụ và hoạt động của các phương tiện giao thông, cụ thể là các phương tiện du lịch chuyên chở du khách. Mặt khách chính sự chưa hợp lý như đã nêu, rất có thể sẽ là nguyên nhân dẫn tới tiêu cực ở các trạm thu phí nếu sự theo dõi quản lý của cơ quan chủ quan lơ là, lỏng lẻo..
Anh Duyệt – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Vụ án “Làng kiến trúc phong cảnh Việt Nam

Theo dự kiến, trong tháng 8-1999 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử hai bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thủy và Trịnh Hồng Triển và tội “vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai” theo khoản 1 điều 180 Bộ luật Hình sự. Chắc chắn các bị cáo sẽ bị xử lý nghiêm mình theo yêu cầu đấu tranh phòng chống tội tham nhũng – một quốc nạn hiện nay.
Song dư luận quan tâm không khỏi băn khoăn, thắc mắc bởi trong vụ án này các cơ quan hành pháo không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các ông Trương Tùng – nguyên phó chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hà Nội, Vũ Huy Từ – nguyên phó Văn phòng Chính phủ (VPCP) và Bùi Xuân Vinh – nguyên chuyên viên VPCP là bỏ sót người lọt tội, không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tham nhũng và trong sạch hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Đảng đang phát động.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao cho thấy ông Trương Tùng đã ký giấy phép sử dụng đất cấp cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam 5000 m2 đất để xây dựng Làng kiến trúc phong cảnh du lịch Việt Nam và 861 m2 đất giao quản lý tạm làm đường chung cho cả khu vực không được xây dựng công trình… Nhưng lúc này trong hồ sơ xin đất của Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam không hề có luận chứng kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hành vi thiếu trách nhiệm của ông Trương Tùng trên cương vị phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội khi đó đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm 5000 m2 đất thoát khỏi sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện cho Thanh Thủy và Hồng Triển “biến” việc xây dựng làng kiến trúc phong cảnh thành tư gia của 24 hộ gia đình – tất nhiên hai vị cũng có hai suất trong đó. Hành vi của ông Trương Tùng không thể không cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 220 Bộ luật Hình sự cho dù quá trình điều tra xét thấy ông không có tư lợi cá nhân. Bởi vì hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm gây ra là yếu tố bắt buộc của tội phạm này.
Vẫn theo cáo trạng, ông vũ Huy Từ và Bùi Xuân Vinh đã thiếu trách nhiệm trong việc ra thông báo số 708 ngày 19/11/1992 thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép Trung tâm phong cảnh Việt Nam được đền bù thiệt hại đất nông nghiệp theo quy định số 1231/QĐ ngày 26/3/1986 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Xin thưa rằng vào thời điểm đó, quyết định 1231/QĐ đã hết hiệu lực pháp luật! Ừ thì cứ cho là ông phó VPCP và chuyên viên VPCP “trình độ hạn chế, năng lực yếu kém” đi, thế còn ý kiến Thủ tướng Chính phủ ở đây là sao? Qua điều tra xác minh, không thấy có văn bản nào có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ như thông báo 708 (!?). Vậy không hiểu động cơ gì mạnh mẽ đến mức khiến hai ông này dám “to gan” mạo danh ý kiến của Thủ tướng để thông báo “dọa” cấp dưới gây thiệt hại cho Nhà nước 1,5 tỷ đồng. Có lẽ lý do “tế nhị” chỉ có “những kẻ nằm trong chăn” mới biết! Cho dù không xác minh được hai ông này có tư lợi thì hành vi thiếu trách nhiệm của họ cũng cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 220 Bộ luật Hình sự. Bởi vì hành vi thiếu trách nhiệm đã quá rõ, còn hậu quả nghiêm trọng theo tinh thần của Nghị quyết số 1/89 ngày 18-4-1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì gây thiệt hại nghiêm trọng là gây thiệt hại về tài sản trị giá tương đương 5 tấn gạo, khi trị giá gấp 3 lần mức nêu trên thì thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Đối chiếu với hành vi thiếu trách nhiệm của ông Từ và ông Vinh gây thất thoát 1,5 tỷ đồng vào thời điểm năm 1992 quy ra gạo chắc chắn thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Thiết nghĩ, với tinh thần trách nhiệm trong việc xét xử, Tòa án nhân dân TP Hà Nội sẽ phán quyết việc này nhằm bảo đảm cho việc không làm oan người ngay nhưng không để lọt tội phạm.
Kim Ngân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000

Bên kia sông Đuống

Đã từng có một thời, những bức tranh Đông Hồ được coi là vật không thể thiếu trong mỗi gia đình vùng Kinh Bắc và nhiều vùng trên khắp nước ta trong ngày xuân, ngày tết. Và cũng đã từ rất lâu, những bức tranh Đông Hồ bất hủ: những “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Đánh Ghen”… đã được đặt trang trọng trong các bảo tàng nghệ thuật danh tiếng khắp Á, u…. Như một niềm vinh quang của nền hội họa dân gian Việt Nam. Khác hẳn với các loại tranh nghệ thuật khác, không phải văn hóa, cầu kì cũng không có nét trau chuốt tinh xảo cả trong bố cục lẫn nội dung, tranh Đông Hồ được tạo nên bởi thẩm mỹ nghệ thuật đầy tinh tế, sự khéo léo nhẫn nại của những nghệ nhân, bằng những phương pháp thủ công với chất liệu được chắt lọc hoàn toàn từ thiên nhiên. Một bức tranh Đông Hồ thường được phối hợp bởi 5 màu sắc truyền thống. Chất điệp chế từ vỏ sò, vỏ ốc của vùng biển Quảng Ninh hòa với kẹo tạo thành màu trắng ngà, sáng điệp óng ánh. Màu vàng tươi lấy từ hoa hòe, rơm nếp… Màu xanh da trời trong sáng được chiết xuất từ gỉ đồng. Màu đỏ nồng nàn, ấm áp được tạo từ gỗ cây vang. Màu đen tuyển nền nã được gạn lọc từ than lá cây tre. Tất cả được in trên nền giấy đó bằng những bản khắc gỗ. Gỗ để làm bẳn khắc phải là gỗ vàng tâm, gỗ thị, gỗ mít thì nét khắc mới sắc sảo, bản khắc mới ăn màu và bền với thời gian. Không phải chỉ độc đáo ở chất liệu tạo thành mà sức hấp dẫn cơ bản trong những bức tranh Đông Hồ còn được toát lên từ cái chủ đề dân dã có nội dung giáo dục được toát lên từ cái chủ đề dân dã có nội dung giáo dục đối với con người. Mặc dù có rất nhiều thể loại như: tranh thơ, tranh chúc tụng, tranh vẽ theo truyện, theo phương ngôn, tranh sinh hoạt…. song các bức tranh Đông Hồ đều thể hiện những cảm nhận nhân ái về vạn vật, biểu bạt những khát vọng mãnh liệt về một cuộc sống thịnh vượng, sinh sôi rất đặc trưng cho tính cách tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đúng như cảm nhận của nhà thơ Hoàng Cầm trong bài thơ “Bên kia sông Đuống”.
“…Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…”
Làng tranh Đông Hồ nay thuộc xã Sông Hồ huyện Thuận Thành – Bắc Ninh. Làng có 10 dòng họ lớn với 3 dòng tranh dân gian: Hàng Trống, Kim hoàng, và Đông Mái. Hiện chỉ còn tồn tại tranh Đông Hồ và cái tên cổ “Láng mái” như trong câu ca dao:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề làm tranh…
Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng ở làng Đông Hồ thì nghề tranh đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm, đến nay đã được 20 đời theo nghề truyền thống. Những bức tranh ông Bụt, tranh thần Độc Cước đã được in rất nhiều ở đây từ thời Lý. Nghề tranh Đông Hồ đã từng cực thịnh qua Lý – Trần – Lê…đến mãi những năm đầu thế kỷ này… ở Làng Hồ nay vẫn còn một di tích lịch sử gắn liền với truyền thống nghề tranh là đình Đông Hồ – đình Tranh. Bao nhiêu năm trước đây, ngôi đình cổ kính này từng là địa điểm họp chợ tranh. Cứ từ mồng 6 tháng chạp cho tới Tết âm lịch, khách khứa, lái buôn từ tứ phương lại đổ về nơi đây để họp chợ, mua tranh… Tranh Đông Hồ từ đó tỏa đi rực rỡ khắp các chợ quê, đem lại niềm vui cho bao mái ấm gia đình ngày Tết. Chợ tranh hôm nay không còn hợp nữa, cảnh tấp nập, nhộn nhịp xưa chỉ còn trong kí ức, trong hoài niệm làm ngẩn ngơ tâm trí bao người. Tranh Đông Hồ, một nghệ thuật lừng danh cho xứ Bắc nói riêng và cả dân tộc nói chung, đang bị mai một dần đi. Trong nền kinh tế thị trường, vì nhiều nỗi lo toan cho cuộc sống, dân làng Hồ này không còn mặn mà với nghệ thuật làm tranh như trước nữa. Con số những gia đình nghệ nhân còn gắn bó với nghề tranh chỉ là một là hai trong số hơn 130 hộ gia đình của làng. Tiếc thay nghề tranh Đông Hồ nay đã phải chuyển sang nghề làm hàng mã… Thực trạng này đặt ra những câu hỏi bức xúc cần được giải quyết: “Phải làm gì để giúp nghề tranh Đông Hồ?”. “Phải làm gì để gìn giữ dòng nghệ thuật hội họa quý giá cho các thế hệ mai sau?”.
Nguyễn Khánh Minh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Phan Thiết – Bình Thuận không thu hút nổi khách

Những năm trước khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam thường ít ghé Bình Thuận, phần lớn họ ghé Nha Trang, Hôi An, Huế… những địa phương chỉ du lịch nổi tiếng của nước ta. Dẫu là một tỉnh giàu tiềm năng về biển, nhưng trên phương diện du lịch biển ở Phan Thiết – Bình Thuận không thu hút nổi khách, và thành phố cuối cùng của vùng duyên hải miền Trung Việt Nam này rốt cuộc chỉ được du khách biết đến như là xứ sở của nghề làm nước mắm nổi tiếng. Hiện tượng nhật thực toàn phần xảy ra ngày 23 tháng 10 năm 1995 đã làm đã làm thay đổi cách cảm, cách nghĩ của nhiều nhà quản lý và kinh doanh du lịch của nước ta nói riêng, quốc tế nói chung về vùng đất này. Ngày ấy khách các nơi nườm nượp đổ về Phan Thiết, đường phố đâu cũng đông chật người, các khách sạn nhà nghỉ không còn chỗ trống, Khách cắm trại dựng lều bạt, trên các bãi cát, những khoảng trống…Khi hiện tượng nhật thực qua đi, nhiều dự án vè du lịch ở đây đã được gấp rút hoàn thành, đấy là những Công ty Golf và Câu lạc bộ Golf Phan Thiết, Công ty liên doanh làng du lịch Hàm Tiến – Hải Dương Resort, Công ty liên doanh làng du lịch Phan Thiết (Victoria), Công ty liên doanh du lịch Phan Thiết (Novotel).. Cho đến khi hương lộ 706 nối Phan Thiết với Mũ Né hoàn thành, đưa vào sử dụng, cảnh quan ở đây thay đổi hẳn. Bán đảo Mũi Né với những bãi cát dài nhìn thẳng ra đại dương, trở thành điểm sáng thu hút đông đảo du khách bốn phương. Năm 1998, khách du lịch tới Bình Thuận là 90.231 lượt người, trong đó có 16.532 lượt khách quốc tế. Năm 2000 dự kiến con số này sẽ là 170 nghìn đồng và 35 nghìn đồng. Từ đây bên cạnh những Huế, Hội An, Nha Trang, Hạ Long… bản đồ du lịch Việt Nam được bổ sung thêm một địa chỉ mới: Mũi Né!. Sự gia tăng đột biến về lượng khách du lịch tới Mũi Né những tháng gần đây, đã kéo nhiều dịch vụ khác tăng theo. Và công ty du lịch Hà Phương thuộc Sở Du lịch Khánh Hòa (Ha Phuong Tourist Company), một đơn vị có chức năng hoạt động lữ hành nội địa đã quyết định mở tuyến du lịch Nha Trang – Mũi Né. Tuyến du lịch này khai trương ngày 3 tháng 3 năm 2000. Bà Bùi Thị Phương, giám đốc Công ty cho biết: Từ Nha Trang hàng ngày Công ty có hai chuyến xe chở khách đi Mũi Né, chuyến thứ nhất khởi hành lúc 6 giờ sáng, chuyến thứ hai khởi hành lúc 20 giờ 30 phút. Giá vé chặng Nha Trang – Mũi Né là 6 đô la Mỹ, Mũi Né – thành phố Hồ Chí Minh 6 đô la Mỹ. Những du khách không có nhu cầu ghé Mũi Né mà đi thẳng thành phố Hồ Chí Minh, giá vé chặng Nha Trang – Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là 8 đô la Mỹ. Tương tự như vậy ở nhiều ngược lại, tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày Công ty cũng có hai chuyến xe chở khách đi Mũi Né, Nha Trang. Giá vé chặng thành phố Hồ Chí Minh – Mũi Né 9 đô la Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang 10 đô la Mỹ. Chi nhanh Mũi Né của công ty đặt văn phòng tại km 14 hương lộ 706, quãng giữa Phan Thiết – Mũi Né. Sau hơn một tháng khai trương tuyến du lịch này được sự đón hận khá nhiệt tình của du khách. Trước kia từ Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Nha Trang đi Mũi Né, khách du lịch phải ghé xuống Phan Thiết rồi tìm phương tiện đi Mũi Né, khá mất thời gian và tốn kém. Bây giờ từ những vị trí trên hành khách, hoàn toàn yên tâm tới Mũi Né mà chỉ mất 3 đến 4 giờ đồng hồ. Thống kê sơ bộ của Công ty một tháng qua cho thấy, 80% số khách đi xe là người nước ngoài, và trong số khách đi xe, những du khách có nhu cầu xuống Mũi Né chiếm đến 50%. Giống như một phát hiện mới lạ, đến lúc này nhiều người mới vỡ lẽ một điều: Vùng đất tưởng chỉ có nắng gió và biển xanh này tiềm ẩn khá nhiều khả năng du lịch. Về di tích có lầu ông Hoàng, tháp Posăn, chùa núi Tà Cú, Vạn thủy tú nơi trưng bày 100 bộ xương cá voi), trường Dục Thanh nơi Bác Hồ từng dạy học trước lúc xuất dương sang Pháp… Về thắng cảnh có đồi hồng Hòn Rơm, mũi đá ông địa, hình đổi dạng… Những thắng cảnh du khách chỉ ghé thăm một lần, và từ đó chúng lưu lại lâu dài trong ký ức của họ.
Trần Chấn Uy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Muôn mặt hàng giả

Phó tổng giám đốc Công ty Procter và Gamble Đỗ Sinh Huy nói: Từ đầu năm 1999 đến nay, Công ty P & G đã phát hiện rất nhiều vụ bán hàng mỹ phẩm giả mang nhãn hiệu của Công ty. Bọn bán hàng giả nhãn hiệu Rejoice do P & G Việt Nam sản xuất chơ bạo đến nổi là lâu la bán hàng mặc trang phục của công ty, đi xe hơi đổ hàng, treo cờ hiệu quảng cáo và còn làm cả thẻ nhân viên giả, tổ chức bán hàng rầm rộ như thật! Bọn này đến đâu là ở đó náo động.
Có thể nói, có bao nhiêu thứ hàng thật bán chạy trên thị trường thì có ngàn ấy thứ hàng giả xuất hiện theo. Áo sơ mi Việt Tiến bị giả đến nỗi công ty phải tổ chức niêm yết hàng giả và thật tại 70 cửa hàng của Việt Tiến trên toàn quốc. Gần tết là mùa xuân xuất hiện xi măng Hà Tiên giả do nhu cầu xây dựng tăng cao. Vào 2 vụ lúa là thời điểm hốt bạc của phân bón và thuốc trừ sâu giả. Theo sau là thuốc tây và đông dược, rượu ngoại nước ngọt giả. Từ năm 1992 đến nay, công an An Giang đã bắt và truy tố hàng chục vụ như thế. Tiêu biểu có thể kể vụ Hồ Văn Huyện và Nguyễn Văn Thạch ở phường Mỹ Bình, Long Xuyên tổ chức làm giả hơn 10 nhãn hiệu thuốc trừ sâu, vụ Nguyễn Thị Nga ở thị trấn Cái Dầu làm giả hàng ngàn chai bia Bến Thành, nước ngọt Phương Toàn và một số nhãn hiệu khác, vụ Hà Minh Nhất ở thị trấn Chợ Mới làm giả gần 2 nghìn bao xi măng Hà Tiên và xi măng Sadico… Hiện nay, hàng Việt Nam sản xuất đã đạt chất lượng cao, có uy tín không chỉ trong nước mà cả ở thị trường nước ngoài, do đó không chỉ bị làm giả trên sân nhà mà con ngay tại nước ngoài. Kẹo dừa Bến Tre nhãn hiệu Bà Tư mắt kiếng xuất sang Trung Quốc bị làm giả tại Trung Quốc bằng nguyên liệu toàn hóa chất. Nước mắn Phú Quốc bị Thái Lan làm giả bán đầy tại các siêu thị châu Âu và Mỹ. Nước hoa nhãn hiệu Miss Sài Gòn của công ty Mỹ Phẩm Sài Gòn bán sang thị trường Philippine bị nước này làm giả khiến cho doanh số bán sản phẩm này của công ty năm 98 giảm 1 phần 3, bằng 20 tỷ đồng. Mắm thái Châu Đốc bị giả tràn lan trong và ngoài nước…. Tác hại của hàng giả thực tế còn nguy hiểm hơn hàng lậu, bởi không chỉ làm ảnh hưởng đến kinh tế đất nước mà còn gây thiệt hại về sức khỏe, nhân mạng. Một chị xóm tôi đi xãm mắt bị thứ mục xăm dỏm làm cho đui luôn! Một chị khác ở phường Mỹ Long, Long Xuyên, sử dụng thuốc thông mũi nhầm thứ giả bị viêm dẫn đến nhiễm trùng hư sống mũi! Mỗi năm, mỗi tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có hàng trăm vụ ngộ độc thực phẩm, trong đó có nhiều vụ ngộ độc thực phẩm giả. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 về đấu tranh chống hàng giả, và buôn bán hàng giả. Theo đó, từng Bộ, ngành chức năng tổ chức kiểm tra chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong lĩnh vực mình quản lý. Các Bộ Trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải coi việc chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, có biện pháp đồng bộ tấn công hàng giả…Thực hiện chỉ thị này, hàng tháng các Bộ trưởng, thủ tướng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành có trách nhiệm báo cáo kết quả về Bộ Thương mại để tổng hợp trình Thủ tướng Chính Phủ.
Hoàng Tuấn – Trọng Triết-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Điểm hồng cho Khách sạn Khánh Hưng

Trong hoạt động kinh doanh, Khách sạn Khánh Hưng, Sóc Trăng hiện nay luôn hoàn thành xuất sắc kế hoạch được giao và nghĩa vụ đối với nhà nước. Phóng viên báo Du lịch đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi cùng ông Trần Đức Hiệp, giám đốc Công ty Khách sạn Khánh Hưng về những hoạt động của đơn vị.
Phóng viên: Ông có thể cho bạn đọc biết đôi nét về đơn vị đồng thời bật mí cho biết đã áp dụng kế sách nào để đạt được những hiệu quả trong kinh doanh, phát triển của đơn vị?
Ông Trần Đức Hiệp: Công ty Khách sạn Khánh Hưng là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính tỉnh ủy Sóc Trăng, được thành lập năm 1994. Hiện nay Khách sạn Khánh Hưng đạt tiêu chuẩn 2 sao, gồm 60 phòng ngủ, trong đó có nhà hàng 500 ghế, 7 phòng ăn riêng… Ngay sau khi thành lập đơn sớm đi vào hoạt động và liên tục gặt hái được nhiều kết quả khả quan. Đó là nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của các ban, ngành, lãnh đạo tỉnh nhà và nhờ sự nhiệt tình năng động của tập thể Cán bộ công nhân viên đoàn kết, hỗ trợ nhau trên tinh thần chung, phấn đấu xây dựng đơn vị bền vững và phát triển. Kế sách duy nhất của chúng tôi là biết nhìn lên để cầu tiến, nhìn xuống để khắc phục và nhìn ngang để điều tiết hợp lý, thực tế. Chính vì lẽ đó mặc dù Khách sạn Khánh Hưng có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn quốc tế 2 sao nhưng chúng tôi không hề nặng phần tiện nghi hóa mà chỉ tận dụng tiện nghi để điều tiết môi trường hiện tại. Trong tổng số có 60 phòng, chúng tôi chia làm 3 loại và phân chia giá cả phù hợp với mọi người, giá phòng loại 3 của chúng tôi là phòng vệ sinh riêng, giường nệm, quạt, không gian diện tích khoảng 6 người ở, mức gần là 60 nghìn người một phòng một đêm. Phần còn lại là loại 1 và loại 2 giá so với các đơn vị bạn bằng hoặc rẻ hơn. Trong khâu phục vụ ẩm thực, ngoài vệ sinh tuyệt đối, thực phẩm ở đây được thường xuyên thay đổi mới lạ thích hợp với khẩu vị khách. Nhờ vậy nhà hàng Khách sạn Khánh Hưng luôn là điểm hẹn mùa cưới và các buổi tiệc chiêu đãi khác. Năm 1999, vừa qua, tổng doanh thu của đơn vị đạt 6 tỷ 85 triệu đồng, lợi nhuận trước thuế gần 400 triệu vượt kế hoạch là 1,7%. Công suất phòng bình quân chiếm tỷ lệ từ 65% đến 80%. Tổng số khách trong năm gần 16 nghìn khách du lịch.
Phóng viên: Thời gian tới hoạt động của đơn vị có gì mới?
Ông Trần Đức Hiệp: Trước mắt tháng 5 đơn vị sẽ cho đầu tư 400 triệu lắp đặt hệ thống thang máy tại khách sạn, mở rộng thêm khu nhà hàng khách sạn, mới trong khu đất kế bên. Đồng thời hưởng ứng chương trình hành động quốc gia về du lịch, đơn vị triển khai mở thêm một số dịch vụ, sản phẩm du lịch hiện đại phục vụ du khách đến tham quan Sóc Trăng nói chung, phát triển kinh tế của đơn vị nói riêng.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông.
Liu Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Cần có thời gian để hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp luật

Trong thời gian giải lao tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 7 quốc hộ khóa X chủ tịch quốc hội Nông Đức Mạnh đã có cuộc tiếp xúc cởi mở, thẳng thắng với các nhà báo đang theo dõi đưa tin về kỳ họp. Nội dung cuộc trao đổi giữa Chủ tịch Quốc hội với các nhà báo xoay quanh vấn đề xây dựng pháp luật, một nhiệm vụ trọng tâm của kỳ họp lần này. Báo du lịch xin trân trọng giới thiệu cùng bạn độc. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là 1 trong 5 dự án luật sẽ được Quốc hội xem xét và thông qua tại kỳ họp này. Nhiều ý kiến bâng khuâng: Dự án Luật này có những vấn đề không bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp sản xuất trong nước? Về vấn đề này, Chủ tịch Nông Đức Mạnh nêu rõ: “Chúng ta đã ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước. Khi Quốc hội thông qua luật này tức là đã thể chế hóa hệ thống đường lối của chúng ta đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước, các đối tượng trong phạm vi điều chỉnh. Điều chỉnh sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài sẽ không có mâu thuẫn với luật khuyến khích đầu tư trong nước. Chủ trương của chúng ta là khuyến khích phát huy đa nội lực. Bên cạnh đó tiếp tục có những quy định cởi mở để có thể mở rộng đầu tư nước ngoài. Chúng ta coi nguồn lực trong nước, vốn trong nước là yếu tố quyết định, nguồn lực ngoài nước, vốn ngoài nước là yếu tố quan trọng. Một vấn đề khác cũng được các nhà báo nêu ra với Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đó là Rút kinh nghiệm sau khi ban hành Luật thuế giá trị gia tăng, chúng ta đã phải có hàng trăm văn bản để hướng dẫn thi hành luật. Lần này Quốc hội xem xét đồng bộ giữa những điều chỉnh sửa đổi bộ luật giữa những điều chỉnh sửa đổi của luật với những nghị định của Chính phủ để đảm bảo Luật được thi hành sớm? Cụ thể dự án luật đầu tư được thi hành vào tháng 7 năm 2000. Trả lời vấn đề này, Chủ tịch Nông Đức Mạnh cho biết: “Luật thuế giá trị gia tăng còn rất mới, nên trong quá trình xây dựng luật này chúng ta không có kịp thời những quy định cụ thể, trực tiếp do đó phải liên tục có những văn bản hướng dẫn. Đó cũng là thiếu sót từ các ngành chức năng của Chính phủ. Nhưng với luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, những điều chỉnh, sửa đổi bổ sung sẽ có những quy định kịp thời để hướng dẫn thi hành. Toàn bộ hệ thống pháp luật nước ta mới bắt đầu đặt nền móng do đó những quy định, nguyên tắc được thể chế hóa trong các điều luật là bước rất quan trọng. Chúng ta cần phải có thời gian nhất định mới có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực một cách cơ bản. Chúng ta có chương trình xây dựng pháp luật theo chu kỳ 5 năm, phù hợp với nghị quyết của Đảng về đường lối kinh tế xã hội trên tất cả các lĩnh vực ở mỗi giai đoạn phát triển. Vì vậy Luật nào đã có những nội dung không phù hợp thì chúng ta điều chỉnh bổ sung. Lĩnh vực nào chưa có, chúng ta xây dựng Luật, chúng ta tham khảo, nghiên cứu có chọn lọc cách làm luật của quốc tế, chứ nội dung, tinh thần của Luật phải là của riêng Việt Nam, phù hợp với định hướng Xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Bùi Hoàng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(132)2000.