Nhiều giải pháp đẩy nhanh nhịp độ cổ phần hóa doanh nghiệp

Tính đến đầu tháng 7/1999, cả nước đã có 168 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa (trong đó riêng 6 tháng đầu năm 1999 có 66 doanh nghiệp). Qua đánh giá bước đầu, các doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa đều làm ăn có hiệu quả, tăng được vốn, giải quyết được việc làm cho người lao động. Tổng giá trị thuộc phần vốn Nhà nước được đánh giá lại tăng khoảng 40 – 50% so với trước khi cổ phần hóa. Tuy nhiên so với kế hoạch, việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm do nhiều đơn vị còn lúng túng trong việc xử lý công nợ, định giá tài sản, định tỷ lệ mua cổ phần….
Để khắc phục các hạn chế nêu trên, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Trần Xuân Giá cho biết, trong quý III/1999, Chính phủ sẽ ban hành và thí điểm một số chính sách mới. Trước mắt trong tháng 7/1999, ban hành Nghị định của Chính phủ về giao, bán, khoán cho thuê doanh nghiệp Nhà nước. Lập quỹ khuyến khích cổ phần hóa, củng cố và phát triển các quỹ đầu tư ở một số địa phương. Việc xử lý nợ ngân sách và Ngân hàng của doanh nghiệp Nhà nước thuộc danh sách cổ phần, giao, bán, khoán, cho thuê cũng được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể: công nợ lớn thì cho phép cơ cấu lại nợ; đối với phần nợ Ngân sách đã xác định là không thu hồi được thì cho xóa nợ; nợ Ngân hàng không thu hồi được thì cho khoanh nợ, dùng cơ chế tài chính để xử lý. Cũng theo tinh thần đổi mới này, quy định khống chế tỉ lệ mua cổ phần cũng sẽ bãi bỏ. Ngoài ra cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa cũng sẽ cải tiến thuận tiện và giản đơn hơn, mạnh dạn thực hiện theo phương châm “nếu giá có thấp thì công nhân hưởng”.
Cũng theo Bộ trưởng Trần Xuân Giá, trong tháng 8/1999 Bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ trình Chính phủ một phương án thí điểm bán phần vốn góp của Nhà nước trong các liên doanh với nước ngoài cho các nhà đầu tư trong nước để tạo thêm kênh huy động vốn trong nước và góp phần tạo nguồn Ngân sách, cũng như bán lại cổ phần của Nhà nước các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa không cần thiết có vốn của Nhà nước. Để hướng dẫn thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài (QĐ số 145/1999/QĐ-TTg ngày 28/6/1999), trong tháng 8/199 Bộ Kế hoạch – Đầu tư cũng sẽ phối hợp các Bộ, ngành liên quan xây dựng văn bản nhằm thu hút vốn, công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trình độ cạnh tranh và mở rộng thị trường để đầu tư phát triển các doanh nghiệp.
Giai thoại làng văn
Nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988) vốn có tài độc tấu ca dao. Với giọng đọc sang sảng, ứng xử mau lẹ, diễn ý dí dỏm, anh đã “cù” được nhiều người. Buổi sinh hoạt nào đến mục “văn nghệ giải lao”, có Thanh Tịnh là y như có tràng cười rôm rả, tiếng vỗ tay rào rào, tiếng hô “lại ! lại !”.
Tại Hội nghị “Thanh niên đô thị dùng hàng nội” ở Khu Bốn, sau khi tấu bài “Cụ già Đông Bắc”, công chúng yêu cầu Thanh Tịnh ứng tấu ca dao kịp thời. Anh húng hắng một lúc, rồi cất tiếng:
….”Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa
Một bao “Cotab” bằng ba con gà
Ba con gà cục ta cục tác
Bao “Cotab” ngáp ngáp là xong !….”
Tiếng cười rộ xen tiếng vỗ tay và yêu cầu “lại ! lại !”. Thanh Tịnh hứng thú đọc lại lần hai. Nhưng lần này, đến câu cuối, tự nhiên, anh lúng búng một lúc rồi cúi đầu chào khán giả…
Vào sau cánh gà, Thanh Tịnh ngã tay dơ cho tôi xem hàm răng giả rồi thở dài:
-”Khổ quá, Châu à, vì cái này rơi mà ngáp ngáp cũng không xong !…”
Hoàng Minh Châu – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Các công ty lữ hành khách sạn liên doanh cần biết bảo quản hồi hương thi hài – dịch vụ mới có ở Việt Nam

Cho đến nay, người Việt Nam không còn xa lạ với thuật ngữ “ướp xác” nữa. Ướp xác có thể hiểu là cách bảo quản thi hài người chết theo một thời gian nhất định. Từ trước đến nay ở Việt Nam chúng ta đã có vài công ty đứng ra làm công việc này. Nhưng kết quả vẫn chưa cao do kỹ thuật còn non kém. Kết quả là thi hài vẫn bị biến dạng, thời gian lưu giữ ngắn. Trong những năm gần đây, lượng người nước ngoài đến công tác, du lịch tại Việt Nam khá cao. Chuyện rủi ro cho những số phận: bị tai nạn, bị bệnh hiểm nghèo chết tại Việt Nam là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy, việc Nhà nước ta chấp nhận cho Hiệp hội ướp xác bảo quản hồi hương thi hài quốc tế (International Fegeration Thanatogy Association) gọi tắt là IFTA được phép hoạt động tại Việt Nam là điều cần thiết.
Sau khi nghiên cứu IFTA đã ủy quyền cho công ty Trách nhiệm hữu hạn xuyên Thái Bình Dương có trụ sở chính tại Hà Nội đảm nhận. Để chuẩn bị cho hoạt động này, ngay ngày đầu công ty đã cử bác sĩ Lã Thái Hoạt sang đào tạo tại Trung tâm kỹ thuật CEET (Pháp) trong sáu tháng.
Tại trung tâm, bác sĩ đã được đào tạo cơ bản thực tập ướp bảo quản 60 thi hài đủ sắc tộc, lứa tuổi trong các trường hợp tử nạn khác nhau. Sau khi tốt nghiệp, được Bộ Y tế chấp nhận, Văn phòng chính thức được hoạt động theo Giấy phép số 402 ngày 18/1/1999 do Bộ Y tế cấp.
Khi được hỏi về hình thức hoạt động, ông Nguyễn Minh Phú giám đốc công ty cho biết; với số vốn đầu tư là 70 nghìn USD, chúng tôi đã trang bị xe cơ động và các loại dụng cụ, hóa chất cần thiết cho 3 văn phòng Bắc – Trung – Nam đảm bảo phục vụ một cách nhanh nhất. Về đối tượng phục vụ trước mắt là những người nước ngoài đang sinh sống, công tác, đi du lịch tại Việt Nam.
Khi có trường hợp tử nạn xảy ra cần gọi gấp cho chúng tôi theo địa chỉ đã thông báo và mọi vấn đề sẽ được giải quyết một cách nhanh nhất. Từ thủ tục an ninh đến việc bảo quản, chuyển thi hài về quê hương họ chúng tôi đều phải đảm nhận. Được biết giá bảo quản một thi hài hiện nay chưa kể tiền hồi hương là 8000 – 10.000 USD. Và tất nhiên số tiền này do Hiệp hội IFTA thanh toán.
Hiện nay IFTA có 405 văn phòng hoạt động trên 70 nước cùng hoạt động song song hỗ trợ lẫn nhau. Về kỹ thuật bảo quản, sau khi thực hiện các thao tác kỹ thuật trên cơ thể người chết, với điều kiện bình thường xác có thể để được khoảng 1 tháng, trong nhiệt độ 8 – 12oC bảo quản được 6 tháng. Điều đặc biệt trong thời gian này, có thể hoàn toàn yên tâm thi hài không bị biến dạng và giữ nguyên được màu sắc, không bốc mùi gây ô nhiễm.
Đây là một loại hình dịch vụ đã hoạt động lâu năm trên thế giới nhưng còn thực sự mới mẻ với Việt Nam. Có thể dịch vụ cũng là một địa chỉ tốt cho các khách sạn, các công ty lữ hành, các cơ quan, đơn vị có người nước ngoài đang công tác, khách du lịch khi gặp chuyện rủi ro.
Sỹ Hào – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Người tâm huyết với nghề mộc Kim Bồng truyền thống

Du khách trong và ngoài nước đến Hội An không ai không một lần ghé thăm cơ sở sản xuất hàng gỗ mỹ nghệ Kim Bồng của anh thương binh Đinh Hữu Lời ở 108 Nguyễn Thái Học để mua hàng lưu niệm, ký kết hợp đồng sản xuất, mua bán.
Nguyên là đội trưởng biệt động thành thị xã Hội An, năm 1968, trong một trận chiến đấu ác liệt với kẻ thù, anh bị thương và bị địch bắt đày ra Côn Đảo 6 năm. Kiên trung một lòng với cách mạng, kiên quyết không chào cờ 3 que của ngụy quyền, anh bị đánh đập dã man. Đến năm 1974 anh được tha và về tham gia công tác trong ngành công an, rồi làm phó giám đốc công ty du lịch – dịch vụ, Ban tổ chức chính quyền thị xã. Năm 1990, anh về hưu với đồng lương ít ỏi và một thân hình thương tật 2/4.
Không cam chịu thiếu thốn, anh quyết tâm xây dựng cuộc sống mới bằng quyết tâm nghị lực của mình. Được bạn bè, chính quyền giúp sức, anh mở xưởng mộc để sản xuất hàng mộc mỹ nghệ. Hội An có nghề mộc Kim Bồng truyền thống tinh xảo đã giúp anh thành công. Vừa làm vừa học hỏi kết hợp nết tinh xảo của mộc Kim Bồng với các làng nghề mộc khác, sản phẩm mộc mỹ nghệ của anh từ những bức bình phong, tranh khảm xà cừ, những hộp đựng trà, khay bình ly, đến bàn ghế, giường ngủ… đều có nét độc đáo riêng, thu hút sự chú ý của khách hàng các nước như Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Úc, Đức…
Những năm gần đây, du lịch Hội An phát triển mạnh, lượng khách du lịch đến Hội An ngày càng đông, thông qua khách du lịch, sản phẩm mộc Kim Bồng của anh Đinh Hữu Lời đã vươn mạnh ra thị trường nước ngoài. Năm 1995 đã xuất khẩu đạt 20.000 USD, năm 1996: 50.000 USD lợi nhuận 60 triệu đồng; năm 1997 xuất đạt: 70.000 USD lợi nhuận khoảng 120 triệu đồng; năm 1998: 120.000 USD lợi nhuận 200 triệu đồng. Năm 1999, dự kiến sẽ có doanh thu 160.000 USD.
Hiện tại anh có 3 cơ sở sản xuất và trưng bày sản phẩm, có 60 lao động thường xuyên làm việc, trong đó có 13 lao động là con thương binh liệt sĩ, 8 bộ đội xuất ngũ, 11 lao động là người tàn tật, thu nhập bình quân của lao động chính từ 700.000đ- 800.000 đ tháng; người có tay nghề cao có thể thu nhập hơn 1 triệu đồng/tháng. Các em mới học nghề, lao động phổ thông thu nhập cũng từ 250-300.000 đồng/tháng. Là người đi lên từ nghèo khó, anh Đinh Hữu Lời rất thông cảm với nỗi khổ đói nghèo, tàn tật của đồng đội và con em họ. Những năm qua, cơ sở của anh đã trực tiếp dạy nghề cho trên 100 học sinh là con nhà nghèo, con thương binh, liệt sĩ trong vùng, các em tàn tật… giúp các em có việc làm ổn định cuộc sống.
Làm kinh tế, anh Lời không quên trách nhiệm với xã hội. Mặc dầu được miễn giảm thuế nhưng năm 1998, anh vẫn nộp thuế 7 triệu đồng, đóng góp ủng hộ các hoạt động xã hội từ thiện trên địa bàn thị xã, giúp đồng bào bị lũ lụt 15 triệu đồng.
Yêu mến nghề truyền thống, làm giàu bằng nghề truyền thống, cứu giúp những người nghèo khó, giúp họ có việc làm, giữ được nghề mộc Kim Bồng truyền thống của địa phương anh thương binh 2/4 Đinh Hữu Lời đã thực hiện lời dặn của Bác hồ “Thương binh tàn nhưng không phế”.
Nguyễn Văn Thiêng – – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Những chuyện gắn liền với lịch sử Hội An

Chùa Ông Bổn hay m Bổn ?
Hội An là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Nam. Phố Cổ là khu phố của người Hoa đến lập nghiệp từ thời con Chúa Nguyễn là Nguyễn Phước Nguyên cai quản xứ Quảng. Đây là đô thị cổ nhất ở Đông Nam Á.
Du khách đến Hội an nếu có ai hỏi Phố Cổ rộng lớn bao nhiêu thì thường được người địa phương trả lời: Thượng chùa Cầu, hạ m Bổn (hoặc Ông Bổn). Có nghĩa là chiều dài của khu phố bắt đầu từ chùa Cầu chạy dài đến chùa m Bổn (hoặc Ông Bổn).
Theo sách báo, tài liệu cũng như cư dân Hội An, kẻ thì gọi là Âm Bổn, người lại gọi là Ông Bổn. Vậy gọi m Bổn đúng hay gọi Ông Bổn đúng ? Tôi nghĩ rằng Trung tâm Bảo tồn di tích phố Cổ là nơi có nhiều tư liệu để khẳng định điều này nên tìm đến. Một cán bộ ở đây cho biết, mãi đến nay cũng chưa rõ gọi m Bổn hay Ông Bổn là đúng vì không có tài liệu để xác minh.
Nghe trả lời tôi hơi thất vọng nhưng quyết không bỏ cuộc. Tôi hỏi đường tìm đến chùa m Bổn hay ông Bổn gì đó. Và chỉ mất 10 phút đi bộ là đã tìm được đến nơi. Nhưng trước mặt tôi không phải là một ngôi chùa mà là Hội quán Triều Châu đồ sộ. Tôi nhìn chung quanh thì cũng chẳng có dấu tích gì về chùa chiền cả. Tôi đành đi thẳng vào cổng hội quán để tìm người hỏi. Một vị tuổi khoảng 70, tóc gần bạc trắng tiếp tôi và tự giới thiệu tên là Khoa Toàn người trông nôm hội quán. – Tôi muốn tham quan chùa m Bổn, có người còn gọi là Ông Bổn. Ông Toàn đáp: – Đúng là ở đây.
Tôi ngạc nhiên: – Nhưng đây là Hội quán Triều Châu.
Ông gật đầu: – Vâng, đúng vậy.
Và ông tiếp tục giải thích: Thuở trước, trước mặt hội quán này còn là bến tàu thuyền thì tại đây có một ngôi miếu, gọi là miếu Ông Bổn chứ không phải là chùa như người ta thường gọi. Theo người Hoa thì chùa phải có sư, sãi và thờ Phật. Còn thờ Thần thì gọi là miếu và chỉ có một người trông nom, thờ cúng. Đến cộng đồng Triều Châu lập hội quán thì cũng lấy nơi này thờ Ông Bổn vì ông là người đồng hương.
Tôi: – Nghe nói Ông Bổn có tên là Mã Viện, không rõ ông có tài đức như thế nào mà được người Hoa sùng bái ?
Tôi không rõ ông Bổn có phải là Mã viện hay không mà chỉ nghe nói chức tước của ông là Phục Ba Tướng quân. Theo truyền thuyết thì ông có pháp thuật chế ngự được sóng gió. Những người đi biển gặp phải phong ba bão táp mà cầu nguyện đến ông thì trong chốc lát sóng yên biển lặng, thoát được hiểm nguy. Những cụ già kể lại, công đức của ông như vậy nên thuyền bè sau khi cập bến, bất luận người Hoa thuộc Bang hội nào cũng vào miếu thờ Ông để tạ ơn đã phù hộ cho họ được thuận buồm xuôi gió, bình an vô sự.
Tôi ngỏ lời nhờ ông hướng dẫn đến nơi thờ ông Bổn. Tôi đi theo ông vào cuối chính điện. Tại đây, một bàn thờ bằng gỗ quý chạm trổ rất tinh vi. Ông chỉ tay vào pho tượng giới thiệu: – Vị ngồi trên ghế sơn đỏ, thiếp vàng đặt ở giữa là Phục Ba Tướng quân. Bên phải là có quan võ, bên trái có quan văn đứng hầu.
Tôi chăm chú quan sát pho tượng, cao khoảng 7 tấc và những tấm gỗ chạm trổ, ghép lại với nhau thành một trang thờ với nhiều truyện tích như “Bát tiên quá hải”, “Cá hóa long” v.v… Quả là một kỳ công quí hiếm. Tôi hỏi: – Chạm trổ quá đẹp như thế này có phải là thờ Kim bồng ?
Tất cả, từ pho tượng đến đến cột kèo, bàn ghế, trang thờ và cả những cây cột bằng đá hoa cương của hội quán cũng đều đưa từ Trung Quốc sang. Theo các cụ truyền miệng lại thì từ thiết kế đến kích cỡ đều đã có sẵn, khi đem qua chỉ còn ráp lại với nhau. Chỉ những phần đơn giản như xây cất thì mới làm tại chỗ. Tôi hỏi: Ông có biết hội quán hình thành từ năm nào không ?
Tôi không nhớ chính xác, chỉ được biết là vào cuối thế kỷ 18.
Tôi tính nhẩm: – Như vậy là miếu ông Bổn tồn tại trên 150 năm rồi mới đưa vào thờ trong hội quán Triều Châu.
Vâng, có thể như vậy.
Tại sao có người lại gọi là chùa m Bổn.
Câu hỏi này được ông Khoa Toàn lý giải: – Trước năm 1954, phía trước hội quán là một thửa ruộng vường rộng, có hai cây cừa (cây đa) cổ thụ. Nối tiếp với vườn là một hồ sen mênh mông tất cả đều là đất của hội quán. Hàng năm, vào ngày rằm tháng giêng hội quán Triều Châu tổ chức lễ hội, đốt pháo hoa và xô cộ. Pháo nổ suốt đêm không ngớt, xác pháo ngập lút cả bàn chân. Ngày Rằm thì cúng chay, quan gày 16 thì cúng mặn. Chiêu đãi có đến năm sáu trăm người từ khắp nơi về dự. Không phân biệt là người Hoa bang hội và ngay cả người Việt cũng có mặt. Nhân dịp này người đến lễ bái có tập tục vay tiền cõi âm làm vốn buôn bán mà họ gọi tắt là m (cõi âm) Bổn (vốn liếng). Tôi nghĩ rằng từ Âm Bổn phát sinh từ sự kiện này.
Cũng theo lời ông Toàn thì trước đây có một đoàn cán bộ từ Hà Nội và Hội An nghiên cứu di tích lịch sử phố Cổ, khi đến tham quan hội quán Triều Châu có nói cho ông biết ông Bổn chưa chắc đã đúng là Mã Viện vì Vua Trung Quốc phong chức Phục Ba tướng quân cho tất cả ba người trong đó có ông Mã Viện.
Xuân Vũ-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Hội thảo “Giá phòng khách sạn – thực trạng và giải pháp”

Làm thế nào để kìm hãm sự phá giá đang ở nguy cơ nghiêm trọng, lấy lại mức ổn định cần thiết, đem lại cho ngành kinh doanh khách sạn sự tăng trưởng xứng đáng với tiềm năng du lịch ?….Đó là những trăn trở của hầu hết các đại biểu khi về dự Hội Thảo “Giá phòng khách sạn – thực trạng và giải pháp” do Tổng cục Du lịch tổ chức vào này 15-7 tại khách sạn Nikko Hà Nội.
Hơn 100 đại biểu đại diện lãnh đạo Tổng cục Du lịch, một số Bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu, cùng lãnh đạo các sở Du lịch, Thương mại – Du lịch, các doanh nghiệp khách sạn thuộc mọi thành phần kinh tế nằm trên một số trung tâm du lịch lớn về dự Hội thảo.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Đặng Văn Tín – Chủ trì Hội thảo đã đưa ra đề dẫn nhằm định hướng những nội dung trọng tâm. 23 tham luận (trong đó có 19 phát biểu tại hội trường) đều khẳng định: Hạ giá là một hiện tượng cạnh tranh nằm trong quy luật tất yếu của thị trường. Nhưng hạ giá ở mức thái quá do sức ép của cạnh tranh khốc liệt đã không đem lại những hiệu quả tích cực mà ngược lại còn gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới mặt bằng kinh doanh khách sạn nói chung, khiến cho các doanh nghiệp khách sạn phải chịu những thiệt hại đáng lo ngại. Hầu hết các ý kiến đều đã đưa ra những nguyên nhân khá đồng nhất. Những vấn đề mấu chốt là tìm ra những giải pháp để khắc phục. Đây là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm. Và có những ý kiến hoàn toàn trái ngược nhau. Trước hết nói về biện pháp tình thế mà lâu nay ở một số địa phương đang áp dụng, đó là cơ quan quản lý Nhà nước quy định giá tối thiểu cho các doanh nghiệp khách sạn theo hạng sao và theo khu vực. Ở điểm này, cùng là cơ quan có chức năng nghiên cứu nhưng ý kiến của Khoa Du lịch trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: cơ quan quản lý Nhà nước không nên và không thể quy định giá phòng khách sạn. Ngược lại đại diện Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch lại cho rằng việc kiểm soát giá tối thiểu là giải pháp tình thế cần thiết. Vấn đề này còn chưa ngã ngũ, bởi theo phiếu trưng cầu ý kiến được tiến hành tại hội trường thì không có luồng ý kiến nào đạt số phiếu tối đa. Tuy nhiên xu thế nghiêng về hướng Nhà nước không cần dùng biện pháp hành chính để quản lý giá, nhưng cần thiết có sự can thiệp trong một chừng mực nhất định bằng những cơ chế, chính sách đồng bộ, cung cấp những thông tin về thị trường….Còn giá cả do doanh nghiệp khách sạn tự chịu trách nhiệm theo điều tiết của quy luật thị trường, đảm bảo tính chủ động kinh doanh của doanh nghiệp.
Có một số ý kiến theo xu hướng trung hòa là: các doanh nghiệp khách sạn tự xây dựng phương án giá của mình, căn cứ vào những yếu tố như: khả năng cung cấp dịch vụ, vị trí địa lý….Sau đó đăng ký cam kết với cơ quan quản lý Nhà nước, chấp nhận sự kiểm soát. Vấn đề này xem ra khó thực hiện, bởi ngay trong cùng một khách sạn cũng có nhiều loại phòng có chất lượng khác nhau, vị trí lợi thế khác nhau….Vì vậy, trong phiếu trưng cầu cũng không đạt được con số khẳng định.
Một vấn đề khác đã từng là đề tài tranh luận trong giới quản lý và kinh doanh khách sạn, đó là việc thành lập Hiệp hội khách sạn, hoặc Tổng công ty khách sạn. Hầu hết các tham liệu và phiếu trưng cầu ý kiến đều nhất trí nên thành lập Hiệp hội khách sạn (90% ý kiến). Nhưng có ý kiến còn lo ngại về khả năng điều hành có hiệu quả của Hiệp hội.
Có một giải pháp chung nhất được hầu hết các tham luận đề cập đến, đó là việc giải quyết sự mất cân đối giữa cung và cầu. Giải pháp này liên quan tới nhiều vấn đề, trong đó có những lĩnh vực ngoài tầm tay của ngành Du lịch. Các ý kiến của đại biểu doanh nghiệp nước ngoài tập trung chuyên sâu về vấn đề này. Trước hết phải nâng cao chất lượng phục vụ, sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch đặc thù. Cần tháo gỡ những vướng mắc trong thủ tục hành chính….Đồng thời Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên như giảm các loại cước phí, các loại thuế…Cùng với việc làm tốt công tác tuyên truyền quảng bá nhằm thu hút khách, tăng lượng cầu. Đây là giải pháp cơ bản và lâu dài.
Liệu những giải pháp trên đã đảm bảo một tương lai tốt đẹp cho sự phục hồi của ngành kinh doanh khách sạn ? Vẫn là sớm nếu đưa ra lời khẳng định. Nhưng đó lại là những tiền đề cơ bản để Tổng cục Du lịch cùng các Bộ, Ngành, Cơ quan chức năng đi đến sự thống nhất cho một chủ trương có tầm chiến lược. Quản lý giá là vấn đề phức tạp, lâu dài, không thể một sớm một chiều giải quyết ngay được. Thiết nghĩ cơ bản nhất vẫn là chất lượng dịch vụ. Điều đó không phải bàn cãi, mà rất cần được các doanh nghiệp khách sạn xem như yếu tố quyết định sự tồn tại của mình.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Sông Truồi – môi trường bị ô nhiễm

Đập hồ Truồi đã được ngăn dòng, khả năng có sức chứa trên 25 triệu mét khối nước, đập cao trên 35m, lớn đủ sức giữ nước và hệ thống tưới nhằm cấp nước cho các cánh đồng lúa bảo đảm 2 vụ ăn chắc ở phía Nam tỉnh: Phú Lộc – Phú Vang và Hương Thủy, đó là mong ước của bao đời. Hồ Truồi – hồ trên núi sẽ tạo môi trường khí hậu tiểu vùng, chủ động điều chỉnh nước chống hạn – ngăn lũ lụt hàng năm, là cảnh quan đẹp thu hút du khách tham quan nghỉ ngơi cảnh sơn thuỷ: Đến với hồ Truồi, sông Truồi sẽ đưa du khách ngược dòng đến chân đập. Nhưng sông Truồi hôm nay đã làm cho chúng ta băn khoăn lo lắng bởi sự ô nhiễm quá trầm trọng. Sau khi đắp đập chặn dòng, sông Truồi chỉ còn một nguồn nước đổ vào sông đó là Khe Chai, một khe nhỏ từ trằm vụng Bính phía bờ Bắc chảy vào, lượng nước không đáng kể nhất là mùa hè khô cạn. Cửa sông thông ra phá Cầu Hai có hai đập ngăn mặn xâm nhiễm đồng thời giữ ngọt cho các cánh đồng đôi bờ Lộc Điền – Lộc An. Vì vậy có thể nói sông Truồi không chảy – trở nên ứ đọng. Đồng bào sống đôi bờ, chợ Lộc An – chợ Lộc Điền sát bờ sông làm nghề bột sắn, chất thải làm nghề, rác sinh hoạt… đủ loại đều đổ xuống sông Truồi. Bởi vậy sông Truồi hôm nay không còn dáng vẻ trong xanh thơm mát vốn có mà nước sông sánh đục hôi thối, nghề nuôi cá lồng thất bại, cá nhiễm bệnh chết do nước ô nhiễm, tác hại trầm trọng đến môi sinh nhất là đoạn từ phía dưới cầu Truồi về xuôi.
Gìn giữ bảo vệ sông Truồi sạch đẹp là trách nhiệm và quyền lợi của nhân dân địa phương đôi bờ, tránh mọi hậu quả không đáng có và tạo nguồn lợi đón khách du thuyền xuôi ngược trên sông Truồi tham quan nghỉ ngơi hồ Truồi – Bạch Mã – Tuý vân – Cảnh Dương – Lăng Cô.
Sáp nhập Công ty Du lịch Quảng Nam và Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng
Lãnh đạo Tổng cục Du lịch Việt Nam đã quyết định sáp nhập 2 công ty Du lịch đóng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Công ty Du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng và công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng thành 1 công ty lấy tên là công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng. Đây là hai công ty kinh doanh du lịch lớn nhất trên địa bàn trong lĩnh vực lữ hành và khách sạn, có bề dày hoạt động khá lâu, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng. Mục đích của việc sáp nhập là tập trung nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như lực lượng nhân sự, tạo ra một công ty đầu đàn về du lịch trên địa bàn Đà Nẵng và miền Trung. Công ty mới có tổng số 6 khách sạn với 185 phòng, trong đó 1 khách sạn 3 sao, 4 khách sạn 2 sao, Trung tâm lữ hành và điều hành du lịch, với tổng số hơn 400 cán bộ công nhân viên.
Ngô Thị Hoàng Anh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Cử chỉ ngôn ngữ trong giao tiếp

Khi giao tiếp với người nước ngoài chúng ta thường thấy họ có nhiều cử chỉ phụ họa, “hoa chân múa tay” để câu chuyện thêm sinh động giúp người đối thoại dễ hiểu hơn. Mặt khác xét một cách nghiêm túc đó cũng là một loại tín hiệu ngôn ngữ giống như người Việt Nam lắc đầu là không, là từ chối vậy.
Mặc dù chỉ là những cử chỉ đơn giản, theo cách nhìn bề ngoài nhiều người tỏ ra không mấy quan tâm nhưng thực chất bạn có thể gặp phiền toái lớn nếu không biết thứ ngôn ngữ ấy bởi nó đã thành dấu hiệu chung diễn tả những phản ứng, những mong muốn tế nhị không tiện nói ra bằng lời.
“Kẻ nói phải có người nghe” ở đâu cũng vậy, nên trong giao tiếp, đối thoại với người nước ngoài việc tỏ ra mình đang chú ý lắng nghe, quan tâm đến câu chuyện là rất cần thiết. Hãy khép hai bàn tay vào nhau, đưa nhẹ lên phía trước miệng và hơi nghiêng mình về phía người đang nói đó là hành động mà người phương Tây hay làm để tỏ ra họ đang lắng nghe một cách chăm chú và cũng có nghĩa câu chuyện rất đáng quan tâm và bổ ích với họ.
Khi tiếp xúc nên xác định và giữ khoảng cách cho phù hợp tùy vào mối quan hệ tình cảm giữa hai bên. Tránh đứng gần quá với những vị khách to, béo, đặc biệt là với phụ nữ. Điều này dễ gây sự so sánh và đôi khi là mặc cảm hoặc ít nhất tạo không gian hẹp, vướng víu, khó cử động cho đối tượng bên cạnh.
Nếu muốn bộc lộ thái độ của mình: thích thú, đồng ý, hứng khởi thì nên chọn tư thế mà các nhà hoạt động đối ngoại hay dùng, họ đưa hai tay ra trước, lòng bàn tay giơ lên ngang tầm bụng. Cả hai tay mở, hướng về phía người tiếp chuyện. Mắt nhìn thẳng vào vị khách với ánh mắt biểu lộ lòng nhiệt tình. Điều này tránh cho người nói khỏi cảm giác mình đang độc thoại. Còn ngược lại nếu bạn muốn rút lui khỏi câu chuyện thì trước khi ngắt lời bằng câu xin lỗi hãy thông báo trước với người nói bằng những cử chỉ sau: Chụm hai đầu gối chân vào nhau, người ngả về phía sau, hai tay bắt chéo lên bụng. Người nói sẽ hiểu và dừng lại đúng lúc. Về phía mình, nếu bạn đang nói cũng nên để ý đến cử chỉ này của người khác bởi chẳng tốt gì khi ta nói mà họ không muốn nghe. Nhưng nếu nhận được thông điệp sau thì bạn nên đi sâu vào chi tiết mình đang nói: người “kia” chụm hai ngón cái và ngón trỏ hoặc tất cả các ngón tay vào nhau. Đó là thói quen của các nhà doanh nghiệp, ngoại giao khi định hướng sự quan tâm vào ý tưởng nào đó.
Cần tránh những thói quen xấu như ngáp vặt, rung đùi, bẻ ngón tay… nó không bình thường với người nước ngoài. Đừng có những cử chỉ gây nghi ngờ, khách ngoại quốc thường kiểm chứng lời nói bằng cách nhìn thẳng vào mắt người đối diện, không nên lảng tránh ngay và quay đi nơi khác, bạn có thể giả gật đầu hoặc vuốt mái tóc khi thấy không tiện nhưng phải để ý đến các cử chỉ như bất giác lấy tay che mặt, xoa trán, thái dương hoặc cằm, vuốt râu (được hiểu của tính úp mở, không thành thật) điệu bộ đó sẽ làm người ta hiểu sai về bạn.
Mỗi nơi, mỗi dân tộc có những hành động, cử chỉ biểu cảm riêng nhiều khi trái ngược với điều chúng ta biết như người Bungari lắc đồng khi đồng ý, người Nhật nói chuyện buồn thường cười để tránh cho người khác lụy theo…Tất cả đòi hỏi vốn hiểu biết của chúng ta phải được nâng cao để đạt hiệu quả tốt nhất trong giao tiếp – hoạt động vốn không thể tách rời khỏi đời sống con người.
Đàm Văn Đảng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Khách du bỗng có một người…

Khách sạn bây giờ phát triển. Khách du lịch quả thật là dập dìu, nhiều vô kể. Nhưng “Khách du” cũng có năm bảy loại. Có điều là trong môi trường này, họ xuất đầu lộ diện với những bước chân dung tự họa thật vô cùng phong phú. Nó trở thành những đề tài hấp dẫn đối với những ai thực sự biết quan tâm đến việc đời.
Một lần, tôi ghé qua một khách sạn của Hà Nội với vài ba người bạn. Chúng tôi ngồi ở góc một phòng ăn rộng lớn, vừa trò chuyện với nhau, vừa giải khát. Không khí trong phòng đang êm ả thì bỗng có một tốp chừng ngót nghét chục người. Dẫn đầu nhóm này là một tay có vẻ đàn anh, cũng complet, cravate như ai… với cái vẻ bề ngoài coi bộ như một tay ăn chơi, nhưng khẩu ngữ thốt ra thì lại thô kệch quá thành thử sinh ra lố bịch.
Vừa bước vào phòng, anh ta đã kéo ghế, quát tháo bọn đàn em inh ỏi. Nào là gọi bia “xịn”… đồ nhắm xả láng… Tiếng nói phát ra, bọn đàn em tíu tít. Dường như anh ta đã quá quen thuộc với cái lối ậm ọe này. Mỗi lần nói một câu, anh ta lại đánh đai thêm một câu chửi thề mà có lẽ chỉ có cánh bụi đời mới ưa dùng…
Bia vào, nhời ra…
Càng ngày anh ta nói càng hăng. Dường như cái cao hứng trộn lẫn với men bia cứ bốc lên ngùn ngụt…
Mẹ nó chứ… Với tao… Tiền bạc không là cái gì hết…
Ông N… với tao… lúc nào tao gọi cũng xong ngay…
Say thì rõ là không say… Vì tất cả đều mới bắt đầu vào cuộc. Nhưng bọn đàn em đi ăn theo nghe “đại ca” nói dữ quá, mắt cứ hấp ha hấp háy, có vẻ thán phục:
Dạ… Giám đốc ăn chơi hết ý đấy ạ…
Anh bạn ngồi kế bên, hích nhẹ vào sườn tôi thì thầm:
Thằng cha này dường như nó quen cái thói “làm vua một đêm” rồi chắc ?…
Một tiếng chen vào:
Một thứ bọ gậy ý mà…
Lại có tiếng hỏi:
Hắn lấy đâu ra tiền mà đập phá dữ vậy ?
Một tiếng bỏ lửng:
Chắc lại “tiền chùa”…
Đến mục hạch sách chủ quán gọi rượu tây nghe mới khiếp chứ:
Mang rượu “xin” ra đây. Tao không quen uống rượu rởm…
Có lẽ ngứa tai quá nên mọi người ngồi ăn quanh đấy đều quay lưng lại. Họ thì thầm đàm tiếu với nhau qua những nụ cười…
Lúc ấy, duy chỉ có một người đã đứng tuổi, ăn vận lịch sự ngồi ở tận cuối phòng, lặng lẽ đứng dậy, lừ lừ tiến lại gần anh ta rồi bật ra một tiếng đanh, gọn và chắc nịch:
Này…
Anh ta quay lại, chưa hết ngạc nhiên thì lại được bồi thêm một câu:
Anh lớn tiếng rằng anh quen ông nọ, ông kia… Con người mà cuộc đời cứ phải nấp dưới bóng của ông nọ, ông kia để mà sống thì có khác gì con giun, con dế ?
Anh ta ngây người như chế đứng, lập túc lại được nghe thêm một câu:
Anh huênh hoang khoe mẽ tiền với bạc. Vứt mẹ nó cái kiểu huênh hoang ấy đi. Cái sức của anh phỏng có được bao nhiêu tiền ?…
Thật là một lớp đối thoại đầy kịch tính.
Tôi chợt nhớ đến cụ Nguyễn Du đã vẩy bút thành thơ, tạc nên chân dung một nhân vật trong truyện của ông:
“Khách du bỗng có một người…”
Người ấy là ai, khi đọc truyện Kiều chắc các bạn cũng đã rõ. Có điều là vị “khách du” kia với nhân vật mà tôi đề cập đến trong bài viết này có một cái gì đó có vẻ như cùng hội, cùng thuyền.
Thế nhưng vị “khách du” kia là một tay ăn chơi có hạng, biết cảm nhận được cái đẹp của tạo hóa bằng tâm hồn thơ của chính mình. Còn cái mẫu con người kia thì cục cằn, thô lỗ, lạc lõng trong dòng đời đang cuồn cuộn chảy. Nó ví như những cây cỏ dại, phải nhổ đi cho sạch sẽ, nhất là ở vào thời điểm chúng ta đang cổ động cho phong trào văn minh, lịch sự.
Lê Hoàng-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Khi lòng tham trỗi dậy

Ngày 23/8 Toà án nhân dân Thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án cố ý làm trái qui định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng do Trần kỳ Phương – nhân viên bảo tàng Đà Nẵng gây ra.
Trần Kỳ Phương (tức Trần Phương kỳ) sinh năm 1958 tại Đà Nẵng. Phương đã viết 3 cuốn sách, hơn 20 bài báo về nghệ thuật và văn minh Chăm-pa, đã tham gia tổ chức triển lãm giới thiệu nghệ thuật Chăm-pa bằng ảnh và mô hình tại Nhật Bản, và đã được nhận huy chương vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hoá dân tộc của Bộ Văn hoá Thông tin.
Năm 1993 qua giới thiệu của trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn, quốc gia, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) đã tiếp xúc với chủ tịch tổ chức Toyota Foundation nhằm tranh thủ tài trợ cho kế hoạch trùng tu phố cổ Hội An và công trình nghiên cứu di tích văn hoá dân tộc. Sau khi Toyota Foundation đồng ý tài trợ Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho ông Hồ Hải Học – giám đốc Sở Văn hoá Thông tin triển khai, giao nhiệm vụ cho cán bộ nghiên cứu chọn đề tài. Nội dung phải đạt: đề tài nghiên cứu phải phục vụ cho việc bảo tồn, tôn tạo, phát triển nền văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung. Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng. Cán bộ ngành Văn hoá nào tìm hiểu, nghiên cứu chọn, xây dựng đề tài là người làm chủ đề tài… trong hàng chục đề tài đã đăng ký, cuối cùng đã xem xét được các đề tài của ông Nguyễn Nhơn giám đốc Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng, ông Hồ Hải Học và Trần Kỳ Phương làm chủ đề tài “Nghiên cứu nghệ thuật, văn minh Vương quốc cổ Chăm-pa của Bảo tàng điêu khắc Chăm-pa thuộc bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng”. Riêng Trần Kỳ Phương cho rằng tiền tài trợ cho đề tài do Phương làm chủ là của riêng mình. Y tự đến Ngân hàng ngoại thương Thành phố Đà Nẵng mở tài khoản do Phương đứng tên. Theo Phương, nếu đưa tài khoản vào cơ quan mỗi lần rút tiền ra sử dụng sẽ phức tạp về thủ tục (Sở Văn hoá Thông tin và Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng đã chỉ đạo Phương phải chuyển tiền tài trợ vào tài khoản Bảo tàng nhưng Phương không chấp hành). Số tiền 89.945 USD của Toyota Foundation, Phương sử dụng không có chứng từ sổ sách, hiện chỉ còn 1.169 USD… Ngoài ra, Trần Kỳ Phương còn nhờ Dương Văn Lâm – một nông dân ở huyện Núi Thành (Quảng Nam) dẫn đi mua 20 tượng cổ về cất trong nhà riêng. Sau này phương đã làm mất 3 tượng cổ?
Trong phần trả lời trước toà, Phương luôn cho mình là đúng “tôi làm vì tình yêu của tôi đối với nghệ thuật Chăm-pa, tôi là chủ đề tài nên có quyền sử dụng tiền học bổng”(Phương tự cho đấy là tiền học bổng chứ không phải tài trợ)… phải mất cả buổi sáng Phương mới chịu nhận tội. Lời nói sau cùng của Phương là xin toà xem xét để được mau chóng tiếp tục “niềm đam mê” của mình. Vậy mà khi Hội đồng xét xử vào nghị án, tôi hỏi Phương có tiếp tục nghiên cứu nghệ thuật Chăm-pa khi ra tù, thật bất ngờ Phương trả lời “cũng không biết nữa, đất lành thì chim đậu”. Tôi biết trong hàm ý câu nói đó Phương cho mình bị oan. Cũng như toà hỏi tại sao Phương mua 20 tượng cổ mà không xin giấy phép của Bộ Văn hoá Thông tin? Phương cho rằng chủ quan định mua về để nghiên cứu cho mục đích chung chứ chẳng có ý định gì cho riêng mình.
Trước toà, Phương vẫn bình tĩnh, tự tin đối chất mạch lạc, luôn cho những việc làm của mình là đúng. Bản án sơ thẩm dành cho Phương là 10 năm rưỡi tù giam, phải nộp vào công quỹ nhà nước 558.575.000 đồng.
Điều đáng tiếc trong vụ án này, ông Hồ Hải Học giám đốc Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) và ông Nguyễn Nhơn giám đốc Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng thiếu trách nhiệm trong việc quản lý cán bộ, tuy có nhắc nhở Phương nhưng chỉ là nhắc nhở… miệng. Thật đáng tiếc cho một tài hoa, giá như Phương đừng tự cao độc lập hoạt động trong tập thể và giá như lãnh đạo có trách nhiệm kiên quyết, kịp thời thì vẫn còn đó một Trần Kỳ Phương với những khám phá cống hiến về văn hoá Chăm-pa cho miền Trung nói riêng và Việt nam nói chung.
Anh Thy – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Thêm các tour mới du lịch trên sông Hồng

Công ty vận tải Thủy Hà Nội và Xí nghiệp vận tải khách và dịch vụ Du lịch vừa mới sửa chữa nâng cấp 3 tàu du lịch Hà Nội 1, Hà Nội 3, và tàu Thăng Long, sức chứa 50 khách – 200 khách/1 tàu.
Ngoài tuyến du lịch 1 ngày trên sông Hồng với 3 tour du lịch. Giá vé 50000đ/khách Việt Nam, 100000đ/người cho khách nước ngoài. Sinh viên, học sinh đi theo đoàn 50 người giảm giá vé 20%. Công ty vận tải thủy mở thêm các tour trong tháng 6 tháng 7, đó là thứ 4,6, chủ nhật buổi tối có tour từ 19h – 21h30’. Vào đầu tháng 7, Công ty dự kiến phối hợp với Sở Du lịch Quảng Ninh mở thêm tour Du lịch Hà Nội – Quảng Ninh, giá vé dự kiến khoảng 100000đ/vé (đi khứ hồi giá rẻ hơn).
Ông Phan Mạnh Chính, Giám đốc công ty cho biết: “Sau khi đi khảo sát điểm du lịch Sông Hồng – Hà Nội – Quảng Ninh và ngược lại, tháng 7 này, Công ty vận tải thủy mở thêm tour mới đường dài, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của học sinh, sinh viên, trong dịp hè, và mùa thu – mùa du lịch của khách nước ngoài”.
Khi đi du lịch bạn có thể đặt tiệc Cocktail giá 6-7 USD/người hoặc các bữa ăn 25000đ/bữa, 30000đ/bữa có nước giải khát.
Túi thuốc dùng cho những chuyến du lịch xa
Để có được những chuyến du lịch lý thú, thoải mái nhất là không vướng bận về vấn đề sức khỏe của bản thân, bạn cần tham khảo ý kiến với bác sĩ trước chuyến đi. Người sẽ cho bạn những lời khuyên thực tế và nhắc nhở bạn phải tiêm chủng ngừa và tùy theo nơi bạn đến, túi thuốc du lịch bạn sẽ mang theo cần nên có:
-Các loại thuốc chống sốt rét (Nivaquine, Lariam)
-Các thuốc viên tiệt trùng để diệt khuẩn trong nước (Hydro-clonazone)
-Một loại thuốc viên trị đường ruột (Spasfon)
-Một lọ thuốc tra mắt khử trùng (Dacryne)
-Một loại thuốc chống dị ứng trong trường hợp bị côn trùng đốt hay gặp các vấn đề dị ứng (Primalan)
-Một vài ống tiêm và kim dùng một lần.
Bác sĩ sẽ hướng dẫn liều lượng và lưu ý bạn khi sử dụng các loại thuốc này. Chúc bạn một chuyến du lịch hè an toàn, lý thú và tốt đẹp.
Lương Chí Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999